Câu Chuyện Hi Hữu _MX Mai Văn Tấn Ban 3/LĐ258/TQLCVN

MX Mai Văn Tấn Ban 3/LĐ258/TQLCVN

Nhớ mãi một câu chuyện tôi cứ nghĩ không bao giờ xẩy ra trong đời người. Nhưng nó đã xẩy ra một cách hết sức bất ngờ trong những ngày lao tù dưới chế độ CS ở miền Bắc Việt Nam. Hình như một sự mầu nhiệm nào đó để ngăn cản những người CS bớt làm điều ác để mọi người bớt nguyền rủa và chính bản thân cũng như gia đình họ gặp những điều an lành hơn. Câu chuyện khó có thể tin và ngoài sức tưởng tượng của con người.

Những ngày tháng ở trại tù cải tạo ( trại 2 liên trại 2 ) Hoàng Liên Sơn, gần bản Mường Côi thuộc huyện Nghiã lộ. Ngày ngày đoàn tù lao động như lấy gỗ, chặt giang, nứa, củi…hoặc đi nhận thực phẩm ở Phù Yên đều đi ngang qua các nhà của dân chúng ở hai bên đường. Họ là thành phần bị chỉ định cư trú mà CS gọi là “Khu Kinh Tế Mới”. Có những người từng làm việc hoặc ở trong quân đội của chính phủ Pháp. Những người sống dưới chế dộ cộng sản nhưng không đúng đường lối hoặc quan điểm. Tóm lại những người mà chế độ cho là nguy hiểm, xét lại hay có hại đối với chế độ. Thêm vào đó là người dân bản xứ.

Ðặc biệt mỗi lần ngang qua nhà anh Trung (anh bị thương ở tay cử động khó khăn, VC gọi là Trung Khều làm nghề thợ may) quản giáo và vệ binh ( danh từ VC ) hay ghé lại nhà anh ngồi nghỉ, uống nước chè hút thuốc lào và tán gẫu. Nhân tiện những người tù cũng ngồi la liệt hai bên đường trước cửa nhà anh để nghỉ. Anh hay đem thuốc lào và nước để anh em dùng. Thời gian này anh em nghiện thuốc lào bất đắc dĩ vì không có thuốc lá. Mặc dầu trong bụng lúc nào cũng cồn cào vì cái đói triền miên, nhưng thuốc lào hình như cần thiết hơn. Thấy sự đối xử anh rất khác biệt với những người khác. Ðó là điều hiếm hoi trong một chế độ lấy lừa dối làm chính, xem mạng người như cỏ rác và đầy hận thù. Các con của anh cũng khác xa với “cháu ngoan bác hồ” [mất dậy không chỗ nào nói nổi], không bao giờ gọi chúng tôi là “thằng tù”. Một lần chúng tôi ngồi nghỉ trước nhà anh trên lề đường để uống nước và hút thuốc lào do con anh mang đến. Nội quy cấm không được tiếp xúc với dân, nếu vi phạm sẽ bị cùm trong nhà kỷ luật vì vậy mọi sự tiếp xúc phải lén lút đừng để bọn cán bộ bắt gặp. Nhân tiện tôi hỏi cháu:

– Sao cháu không gọi các chú là “thằng tù” giống như các đứa trẻ khác.

Cháu trả lời:

– Bố cháu dạy các bác các chú là thành phần học thức miền Nam, vì vận nước phải đi tù chứ không có tội tình gì cả, các con phải đối xử lễ độ với họ và tôn trọng họ.

Thấy sự việc càng ngày xẩy ra không đơn giản, phải có nguyên do xâu xa nào đó mà tôi chưa biết. Trong đầu tôi tự hỏi mãi tại sao ? Mà chính tôi chưa bao giờ trả lời được. Lúc bấy giờ trong trại khoảng 300 tù nhân chỉ có 2 người là TQLC, tôi và anh Nguyễn Văn Ðốc. Nhưng anh Ðốc làm thợ rèn không bao giờ ra khỏi trại, chỉ một mình tôi TQLC lao động ngoài trại (Anh Ðốc đã mất vài năm nay tại Houston.)

Mãi đến ngày gần Tết năm 78, tôi được trại giao công tác lấy lá dong mang về trại để gói bánh chưng cho bộ đội lẫn tù nhân. Tôi đi ngang qua nhà anh, thấy anh ra hiệu tôi xuống suối trước cửa nhà anh, rồi anh đi theo xuống gặp tôi và lại ngồi gần tôi. Một lúc rất lâu anh không nói năng gì cả. Tôi thấy anh ngồi trầm tư và suy nghĩ, đôi mắt nhìn tôi chăm chú. Tôi ngồi im lặng tôn trọng sự suy nghĩ cuả anh. Một lúc sau anh bắt đầu kể với giọng trầm buồn:

-Năm 73 sau ngày ngưng chiến, một buổi sáng nhiều sương mù, tôi đi theo bờ biển để tìm Cua, Ốc tại thôn Gia Ðẳng. Vì không kiểm soát được nên tôi lọt qua phòng tuyến của anh và bị các anh bắt được. Tôi tất lo ngại là sẽ bị các anh đánh đập, nhưng ngoài sức tưởng tượng của tôi, các anh đã đưa thuốc cho tôì hút và tử tế đưa tôi về BCH của các anh.

Tôi được một anh lính Thủy đánh bộ mang quân hàm Thượng úy hay Ðại úy gì đó tôi không biết chắc chắn lắm dẫn tôi ra Huế để ăn uống và xem chiếu bóng bằng xe ô-tô con. Thú thật anh trong lòng tôi vô cùng cảm xúc cách đối xử tử tế của các anh. Nhưng tôi không thể ở lại với các anh mặc dù tôi rất muốn, vì các anh cũng biết tôi còn gia đình hiện đang sống bên kia và sẽ bị trù dập nếu tôi là hàng binh.

Sau một ngày đi chơi rất thoải mái tôi được các anh trả về đơn vị tôi. Từ đơn vị của các anh tôi chạy về đơn vị tôi, thú thật tôi không ngờ các anh không bắn theo tôi mà thực sự có ý định thả tôi. Tôi về phải làm tờ kiểm điểm và phải nói lên sự đối xử tàn ác của các anh. Thú thật anh lương tâm tôi rất xẩu hổ nhưng không viết như vậy không được.

Rồi đến ngày “Giải phóng miền Nam” tôi bị phục viên và được chỉ định đem gia đình về đây sinh sống. Tôi nghĩ chế độ nào dù bạo tàn hay nhân đạo theo thời gian cũng phải thay đổi, con người dù sống một thế kỷ rồi cũng mai một đi. Chỉ có tình người là trường tồn vĩnh cửu, mặc dầu chế độ và xã hội hiện tại rất hiếm hoi “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”.

Ngày hôm nay, tôi đối xử tử tế với các anh là vì tôi nhớ mãi sự tử tế của các anh đối xử với tôi mà trong tư tưởng tôi luôn luôn bị nhồi nhét các anh là thành phần ăn Gan uống Máu đồng loại.

Tôi nghe bộ đội nói tên anh và cho tôi biết anh là “Lính Thủy đánh bộ” trốn trại vừa bị bắt lại còn đang kỷ luật. Ngày hôm nay tôi kể cho anh nghe câu chuyện này mà tôi đã dấu kín từ lâu. Tôi biết anh là lính thủy đánh bộ nên thổ lộ cảm nghĩ của tôi vì tôi tin anh cùng đơn vị đã bắt tôi cũng đã biết hoặc đã nghe chuyện này.

Tôi muốn nói với anh lời cuối, anh nên giữ gìn sức khoẻ, đừng có trốn trại mà sẽ không bao giờ thoát được mà chỉ thiệt thân, hãy chờ đợi ngày về với gia đình, tôi không biết thời gian nào nhưng tôi nghĩ rằng sẽ lâu lắm. Ðiều tiên quyết là anh phải còn sống mới về xum họp với gia đình, anh nên nhớ điều hết sức quan trọng này.”

Sau khi nói xong anh đưa tôi gói xôi và trở lại nhà:

– Anh ăn đi tôi không có gì hơn để giúp anh.

Trong khi vừa ăn xôi vừa nghĩ lại những lời tâm sự của anh. Ðúng là năm 73, sau khi có lệnh ngưng chiến tại chỗ đơn vị của Thiếu Tá Trần Quang Duật Tiểu Ðoàn Phó TÐ1/TQLC có bắt được 1 tù binh đi lạc vào tuyến phòng thủ của TÐ1 ở thôn Gia Ðẳng. Sau khi giải giao về BCH/LÐ/258 đang đóng ở Hội Yên. Lữ Đoàn Trưởng Ðại Tá Ngô Văn Ðịnh đã xin lệnh cấp trên để đưa anh ra thị xã Huế ăn uống vui chơi mong tìm hiểu thêm tin tức và mong anh ta hồi chánh. Tôi được cấp xe, tiền để đưa anh ra Huế ăn uống và xem chiếu bóng. Tôi không hỏi tên anh vì tôi nghĩ anh sẽ nói tên giả. Ðầu tiên ăn Phở anh ăn ngon lành như chưa từng được ăn ngon như thế, được uống cà phê, hút thuốc lá và đi xem chiếu bóng. Trước khi về tôi đưa anh ra quán chè ở cồn Hến để anh giải lao và nhìn đồng bào ta nhộn nhịp qua lại. Anh đăm chiêu và tận hưởng những gì được ưu đãi, chắc anh nghĩ trong đời anh khó có dịp được hưởng lần nữa. Một lúc anh nói với tôi:

– Các anh tử tế lắm, ăn uống rất ngon và thành phố tấp nập tôi thích lắm, nhưng tôi không ở lại với các anh được vì tôi còn gia đình đang sống bên kia.

Trên đường trở về tôi được lệnh trả anh về cho TÐ1/TQLC để đơn vị này thả anh tại nơi bắt anh để anh trở về đơn vị. Biết rõ và nhớ rất rõ từng chi tiết theo lời tâm sự của anh. Nhưng suốt thời gian nghe anh tâm sự, ngồi lặng yên tôi lắng nghe. Không xác nhận cũng như không nói lời nào cả. Ở tù với CS một thời gian tôi thấm thiá sự gian trá lừa lọc và tàn ác của họ. Năm 1979 khoảng tháng 7, trời rất là nóng bức từng cơn gió Lào làm cháy da thịt. Tôi xuống suối để rửa mặt cho đỡ nóng bức. Anh xuống theo và gặp tôi. Anh Trung đưa cho tôi 2 củ khoai lang đã chín, vài viên kẹo, một nắm thuốc lào và nói:

– Tôi chỉ có thể giúp anh bấy nhiêu, anh cũng biết là mọi người rất nghèo, không dư dả như miền Nam của các anh. Tôi nghe 5 người trốn trại sẽ được di chuyển đến trại khác vào ngày mai, tôi chúc anh may mắn và tôi nghĩ chúng ta khó có ngày gặp lại mong anh giữ gìn sức khoẻ.

Tôi suy nghĩ sự chuyển trại là một tin không bao giờ cho tù nhân biết, nếu tiết lộ sẽ có biện pháp kỷ luật ngay. Chắc là anh tin tôi mới cho tôi biết. Tôi bèn nói nhanh với anh vì ngập ngừng thì tôi sẽ không bao giờ dám nói:

– Người Lính Thủy Ðánh Bộ mà anh kể chính là Tôi.

Nói xong tôi chào anh và quay lưng lên đường nhập chung với đội. Ðúng ngày mai 5 người chúng tôi chuyển về liên trại nhập chung với những người trốn trại ở các trại khác di chuyển về trại Phú Sơn 4 Bắc Thái để công an quản lý. Tôi nhớ mãi hành động cũng như cách cư xử thân thiết và tử tế của anh. Tôi nguyện trong lòng một ngày nào đó, nếu còn sống sót để trở về với gia đình tôi sẽ tìm gia đình anh để thăm. Mãi đến cuối năm 87 tôi mới được thả ra khỏi trại cải tạo về với gia đình. Về đến nhà bao nhiêu chuyện phải lo: lo ăn, lo mặc, lo chỗ ở, lo kiếm tiền để sinh sống cho chính mình và gia đình mình. Sau đó phải lo giấy tờ hồ sơ để xuất cảnh. Bao nhiêu chuyện phải gánh vác không còn thì giờ nghĩ đến gia đình anh Trung cho đến khi gia đình tương đối ổn định sau khi được định cư ở Hoa Kỳ.

Năm 1994, nhân một chuyến làm ăn ở Kuala lumpur ( Malaysia ) với 1 người Hoa quốc tịch Mã. Trong khi chờ đợi hợp đồng với 1 xưởng mộc, anh ta hỏi tôi có muốn về thăm viếng VN hay không. Tôi không có ý định về VN vì chế độ CS còn tồn tại, cha mẹ tôi đã qua đời, hơn nữa tôi mới dời đất nước một thời gian ngắn khoảng 4 năm, không có lý do để về VN. Bỗng tôi nghĩ đến anh Trung tôi đổi ý muốn về VN một chuyến. Sau vài ngày ở Saigon, tôi tìm cách đi ra miền Bắc đến tỉnh Hoàng Liên Sơn tìm gia đình anh Trung. Ðáng tiếc cảnh vật cũng như người đã thay đổi, không có cách gì tìm lại được gia đình anh. Tôi trở lại Saigon trong lòng vô cùng hối tiếc và ân hận. Nhưng tôi nghĩ mọi việc đều được thượng đế an bài, tôi cố công đi tìm nhưng không gặp được cũng là do ý trời.

Lý luận như thế để lường gạt lương tâm được yên ổn không còn bức rứt nữa.

Vài ngày sau đó không có chuyện gì để làm, hơn nữa Saigon nóng bức và chật chội tôi có ý định về miền Tây chơi. Tôi ra bến xe Tân cảng Phú lâm mua vé xe về Cần thơ. Trong khi chờ đợi xe khởi hành, tôi ngồi quán uống nước nhìn người qua lại tấp nập và vội vã hình như thời gian không đủ đối với họ. Bỗng nghe 2 anh khuân vác giành mối gây nhau bằng giọng Bắc mà theo kinh nghiệm xương máu của tôi đúng là giọng Bắc Kỳ năm 75. Hai anh cãi nhau nhiều, nhưng chỉ 1 câu làm tôi chú ý và ngạc nhiên

– Mày con Trung Khều, bố con mày là thành phần phản động phải sống ở vùng núi không được sống vùng đồng bằng như gia đình tao, tao không xem mày ra gì cả…..

Câu nói này làm trong đầu óc tôi hiện lên hình ảnh quen thuộc xa xưa, nhưng không biết chắc đúng hay không. Ðợi 2 anh cãi xong lại gần anh bị anh kia mắng tôi hỏi:

– Anh quê ở đâu mà vào Nam làm nghề khuân vác?

Anh nhìn tôi ngỡ ngàng và đôi chút ngạc nhiên. Tôi bèn mời anh lại chỗ tôi ngồi và gọi nước cho anh. Một lúc sau anh ta tâm sự:

– Gia đình tôi trước ở Mường Côi tỉnh Hoàng Liên Sơn sau đó cả gia đình di chuyển về Phủ Lý tỉnh Nam Ðịnh để sinh sống. Nhưng cuộc sống quá khổ thiếu thốn đủ thứ, gia đình quá nghèo nên tôi định vào Saigon để kiếm tiền giúp gia đình.

Tôi bèn hỏi:

– Hồi nẫy tôi nghe anh kia nói bố anh là Trung Khều phải không ?

Anh nhìn tôi và nói:

– Vâng! Bố tôi là bộ đội phục viên, tay bị thương nên mang tật.

Tôi bèn nói:

– Bố anh làm nghề thợ may phải không ?

Anh ngạc nhiên nhìn tôi chăm chú và nói:

– Bác là Việt kiều ở nước ngoài về phải không ?

Tôi trả lời:

– Tại sao anh lại đoán chắc như thế ?

Anh bèn chỉ đôi giầy tôi đang mang và nói:

– Ða số người ta chỉ mang dép mà bác lại mang giầy Adidas.

Tôi mỉm cười nói với anh ta:

– Tôi cũng ở Mường Côi Hoàng Liên Sơn 3 năm.

Anh cười nói:

– Bác nói giọng Nam rặc sao lại ở Hoàng Liên Sơn ?

Tôi bèn nói:

– Tôi ở tù cải tạo ở đó.

Anh ta mừng rỡ nói:

– Bác ở trại tù 9 căn bị cháy hết đó phải không ?

Tôi trả lời:

– Phải, anh nhớ dai lắm.

Anh ta nói thêm:

– Các bác các chú ở trong trại đó lao động ngang qua nhà cháu, hay nghỉ hai bên đường trước cửa nhà để uống nước và hút thuốc lào.

Tôi liền nghĩ “Khổ công lặn lội đi tìm không được tình cờ lại gặp cố nhân”. Tôi bèn hỏi thăm bố mẹ anh ta. Anh ta kể:

– Bố cháu bây giờ yếu lắm, di chuyển đi lại khó khăn. Không làm gì cả chỉ có mẹ cháu buôn bán ngoài chợ Phủ Lý nhưng không đủ ăn. Không có vốn làm sao kiếm tiền được gia đình rất vất vả và nghèo khổ. Tôi lấy 200 đồng ( Dollars) để giúp anh và gia đình anh và gửi lời hỏi thăm bố mẹ anh.. Tôi nói tên tôi cho anh biết và nghĩ rằng bố anh có lẽ còn nhớ. Tôi viết địa chỉ cho anh để sau này anh có thể liên lạc được với tôi.

Sau 7 ngày lang thang ở VN, tôi trở lại Malaysia để tiếp tục công việc làm ăn, trong lòng tôi thực sự thơ thới hân hoan cũng như tràn đầy hạnh phúc như vừa trút bỏ gánh nặng ngàn cân trên vai và đã thực hiện được điều tâm nguyện của mình. Mọi việc lặng lờ trôi vào quá khứ và tôi quên bẵng đi một thời gian.

Năm 1995 khoảng tháng 5, tôi nhận được một lá thư, lời lẽ trong thư là lời lẽ của một anh bộ đội miền Bắc đã phục viên. Tôi muốn gìn giữ từ ngữ của anh dùng để người đọc có ý niệm rõ chứ tôi không có ý dùng từ ngữ VC…..

“Tôi được con tôi kể lại anh tặng cho nó và gia đình tôi một số tiền qúa lớn đối với trí tưởng tượng của tôi, Tôi nghĩ trong chế độ xã hội hiện nay rất thiếu tình người, không ai cho tôi một số tiền lớn lao như thế và đối xử tử tế như anh vậy. Nhờ đó vợ tôi có số vốn buôn bán, cuộc sống đỡ hơn trước nhiều lắm. Thật sự bây giờ tôi không thể nào hình dung được hình ảnh của anh, hình như thời gian đã làm cho tôi quên mất. Nhưng việc làm của anh đã giúp cho tôi “một ấn tượng bức xúc” không bao giờ tôi quên được. Tôi rất mừng cho anh và gia đình anh đã thoát khỏi sự cùng cực đau khổ. Là nạn nhân của một chế độ bất nhân, tàn bạo và hận thù nhưng mọi người trên thế giới mở rộng vòng tay giúp đỡ. Chế độ đó tôi đã phục vụ cả cuộc đời tôi và hy sinh xương máu để bảo vệ.

Cuối cùng tôi xin nói với anh rằng. Thuyết nhân qủa của nhà Phật đã đánh tan bức tường vô thần trong đầu óc tôi. Bây giờ sự suy nghĩ của tôi vào giờ phút còn lại của cuộc đời hoàn toàn thay đổi hẳn. Tôi tin tưởng hoàn toàn vào câu nói của nhà Phật “Gieo nhân nào hưởng qủa nấy”.

Tôi thành thật cảm ơn anh và sự tử tế của anh đã làm biến đổi con người tôi thành người tốt như hiện nay theo ý tôi nghĩ….”

Christmas 2007

MX Mai Văn Tấn

(Mũ xanh Đ/u  Mai Văn Tấn, Ban 3/Lữ Đoàn 258/TQLCVN)

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

2 Responses to Câu Chuyện Hi Hữu _MX Mai Văn Tấn Ban 3/LĐ258/TQLCVN

  1. quan says:

    Câu chuyện thật cảm động và nhân ái

  2. Trí thức Miền Nam và Sinh viên học sinh Sài Gòn
    đã bị CS lợi dụng như thế nào!?
    Danlambao 2012/10/25

    David Thiên Ngọc

    Như trong bài “Trí thức Việt Nam trước nội tình đất nước” tôi đã viết thanh niên VN nói chung trong đó có hàng ngũ SVHS trong thời gian 1965-1975 đa phần tương đối mơ hồ về chính trị, ý thức chính trị và lập trường tư tưởng không vững vàng và có thể nói là mất phương hướng. Nắm được lợi điểm này CS mà trực tiếp là thành đoàn TNCSHCM, đặc khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy dấy động phong trào SVHS yêu nước phản chiến, chống Mỹ ngụy đòi hòa bình cho VN. Từ đó phong trào được thổi bùng lên như một kho xăng khi “ngọn đuốc Lê Văn Tám” chạy vào và gió lớn Thành đoàn thổi mạnh từ phía sau.

    Gói gọn trong bài này tôi chỉ nói lên cái âm mưu phá rối hậu phương của chế độ VNCH ngay tại thủ đô Sài Gòn để làm bận tay “Phủ Đầu Rồng” trong việc thực hiện sách lược lẫn chiến lược trên 4 vùng chiến thuật.

    Trong tình hình như dầu sôi lửa bỏng, chính quyền VNCH phải đối phó với 2 cuộc chiến ngoài tiền tuyến và ở hậu phương. Ngoài tiền tuyến là một mặt trận bằng bom đạn, máy bay, xe tăng thiết giáp… và bằng những xác người trên khắp ruộng đồng rừng núi. Riêng trong mặt trận hậu phương là cuộc chiến thứ 2 bằng biểu tình, tuyệt thực, đả đảo… rồi cũng có kẽm gai, dùi cui, vòi rồng phun nước và có cả nước mắt của người già lẫn trẻ thơ. Cuộc chiến này tuy cân não nhưng nó không gây chú ý nhiều trong đại đa số nhân dân cả nước, nhất là ở các tỉnh lẻ vùng quê… bởi cuộc chiến này thiếu vắng xác người tuy cũng có những vụ ám sát xảy ra nhưng tiếng vang không rộng khắp. Tuy thế trong chừng mực nào đó nó cũng làm suy yếu tiềm lực, ý chí chiến đấu của QLVNCH và góp phần làm cho chế độ lung lay. Hơn nữa, trong cuộc chiến này nó có đặc thù là không có giới tuyến Quốc-Cộng rõ ràng.

    Cuộc chiến tranh trên đường phố nội đô này cũng có 2 phần là mặt nổi và mặt chìm:

    Về mặt nổi: Đó là lực lượng SVHS bị sự kích động và lôi kéo của các đảng viên thành đoàn bải khóa, xuống đường đấu tranh bài Mỹ chống ngụy, đòi hòa bình cho VN, đòi thả tự do cho một số cán bộ CS nằm vùng, SV Việt cộng (hợp pháp) như Vũ Hạnh, Huỳnh Tấn Mẫm (L71), Dương Văn Đầy (ba Đầy, bảy Không), Phùng Hữu Trân, Lê Thành Yến…

    Trong bài “Rồi hòa bình sẽ đến” GS Lý Chánh Trung đã viết “Tôi đã đến đây tham dự buổi tuyệt thực của 20 giáo chức đại và trung tiểu học tại tòa viện trưởng đại học Sài Gòn để yêu cầu nhà cầm quyền trả lại tự do cho các SV trong đó có anh Huỳnh Tấn Mẫm đã bị giam giữ trái phép đúng một tháng qua và đang tuyệt thực, tuyệt ẩm trong khám Chí Hòa. Trong lúc mấy em hát tôi cảm động không dám nhìn lên, chỉ nhìn xuống…” (trích trong Một Thời Bom Đạn, Một Thời Hòa Bình – Lý chánh Trung trang 62).

    Cùng lúc này còn có lực lượng phụ nữ đòi quyền sống, các ông Trần Ngọc Liễng, Nguyễn Văn Cước, Thượng tọa Thích Nhật Thường, Thích Mãn Giác. Hòa trong cao trào đó cũng không thiếu mặt thằng sư Thích Nhất Hạnh.

    Lúc bấy giờ thủ đô Sài Gòn toát lên hình ảnh một thành phố chiến tranh có một gam màu, sắc thái thật lạ kỳ. Trên đường phố ngoài những cuộc biểu tình bừng bừng như bão lớn đối nghịch lại với dùi cui lá chắn, lựu đạn cay, vòi rồng phun nước còn có những nữ SVHS đầu tóc mặt mũi bèm hem, nước mắt lưng tròng… te tua tà áo trắng và trên tay là những bịch chanh để chống đỡ hơi cay và sẻ chia cho các bạn.

    Rồi từng tốp thanh niên SVHS manh động hơn lật xe Mỹ lên đập phá và đốt cháy. Có đêm SVHS, TN Phật tử từng đoàn dài, rầm rộ xuất phát từ chùa Ấn Quang tiến về chùa VN Quốc Tự rồi bị bao vây giữa những vòng kẽm gai rộng lớn tạo thành đêm không ngủ đốt lửa sáng rực một góc trời… Họ hát vang những bài ca trong phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe” với khí thế ngất trời, đầy vẻ tự hào. Có toán tiến thẳng về chiếm tòa đại sứ Campuchia ngay ngã tư Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng mà Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu năm 1963 phản đối Tổng Thống Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Bên ngoài các vòng lửa đó là xe nhà binh, xe cảnh sát pha đèn chạy như bướm lượn, hòa với khói mù lẫn sương đêm cùng âm thanh còi hụ, lẫn tiếng đồng ca tưng bừng. Tất cả giống như cảnh chạy loạn thì không đúng mà trẩy hội lại càng không! Tôi chẳng biết phải dùng từ gì cho đúng nghĩa?

    Lúc này chính quyền Sài Gòn mà trực tiếp là Giám đóc Nha Cảnh sát Đô thành, ông Trang Sĩ Tấn dùng lực lượng cảnh sát áo trắng và cảnh sát dã chiến để vãn hồi trật tự cũng không hiệu quả. Chỉ biết dùng dùi cui, lựu đạn cay, với kẽm gai phong tỏa đã gây ra phản tác dụng mà còn làm gia tăng thêm sự phản cảm của quần chúng nhân dân và nhất là trước ống kính của các phóng viên trong và ngoài nước trong đó có các nhà báo VC nằm vùng. Xa xa ở dưới những hàng hiên, bên những gốc cây ven vệ đường có những anh thợ sửa xe, phu xích lô ban đêm sụp nón hí hoáy chép ghi diễn biến sự việc báo cáo về cho “tổ chức”. Như vậy lúc này nước cờ của đảng đã triển khai đúng hướng và tiến thêm mấy bước.

    Một hậu phương rối ren như vậy thì nơi tiền tuyến các chiến binh làm sao yên tâm cầm súng để chiến đấu bảo vệ tự do?

    Về mặt nổi trong cuộc chiến ở nội Đô còn có sự góp mặt của các tên “chính khách, trí thức và giới báo chí” đã bị CS lợi dụng và giựt dây nữa.

    Trong những bài thơ của thằng sư Nhất Hạnh có đoạn:

    Làng tôi hôm qua vì có sáu người cộng sản về.
    Nên đã bị dội bom hoàn toàn tan nát.
    Cả làng tôi hoàn toàn chết sạch.
    Lũy tre ngơ ngác.
    Miếu thờ ngã gục.

    Trong đoạn thơ trên tác giả dùng đến 2 lần chữ “hoàn toàn” có nghĩa rằng làng mạc đã thành bình địa, người thì chết sạch không còn một bóng. Thế mà còn tồn tại một lũy tre sừng sững đứng giữa trời để có bóng hình “ngơ ngác” và còn sống sót thì chỉ có một tên Nhất Hạnh tỉnh táo để sáng tác đoạn thơ này! Cũng nhờ thế mà CS đã tuyên dương cho hắn. Hắn đã bị CS lợi dụng và ông chỉ là một cá nhân không đại diện cho một đoàn thể tôn giáo nào vậy mà VC đã vô tình trong sự cố ý tuyên dương cho những “nhà sư chân chính” và Phật tử như sau:

    “… Người Sài Gòn, tuổi trẻ SG biết ơn những bậc tu hành chân chính đã quên mình vì nghĩa lớn, những phật tử hy sinh trong bão lửa đấu tranh làm suy yếu kẻ thù, làm rối loạn hậu phương của chúng…” (trích Trui Rèn Trong Lửa Đỏ trang 349).

    Tên Hồ Ngọc Nhuận, một dân biểu hạ viện (VNCH, ăn cơm QG thờ ma Cs) đã viết trong hồi ký của mình về việc giải cứu Huỳnh Tấn Mẫm khi thằng sinh viên VC này bị bao vây truy bắt như sau: “…Trung tâm SV phật tử một lần nữa dậy sóng. Một chiếc xe Jeep nhà binh… chúng tôi đã ập vào trung tâm Quảng Đức, bốc Huỳnh Tấn Mẫm chạy thẳng về dinh quốc khách góc đường Công Lý-Hiền Vương… chiếc xe Jeep ập vào bốc Mẫm là của phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ”. Hồ Ngọc Nhuận còn viết tiếp “…Tiếp tay cho CS như vậy không chỉ có mình tôi mà lần này vai chánh không là tôi mà là tướng Nguyễn Cao Kỳ!” (trích hồi ký Đời, bản thảo, HNN trang 142) (Phần này tôi sẽ có một bài viết riêng tỉ mỉ về ” Huỳnh Tấn Mẫm tranh thủ PTT Nguyễn Cao Kỳ).

    Lúc này trung tâm Quảng Đức, chùa Phổ Hiền, chùa Ấn Quang – do Thượng tọa Thích Thiện Hoa trụ trì – là những nơi đã giúp và che chở cho VC nằm vùng hoạt động làm sụp đổ chế độ miền Nam Việt Nam. Bởi một lẽ đơn giản là những nơi cơ sở tôn giáo thuần túy với sự bao dung và hướng thiện vô tình đã bị sập bẩy mưu gian của VC, với luận điệu tuyên truyền vô cùng xảo quyệt tạo nênhàng ngũ SVHS Phật tử với “hào khí non sông”, bừng bừng sức sống. Thêm vào đó VC đã cài người vào hàng ngũ tu sĩ làm nòng cốt, che mắt các vị chân tu mà thực hiện kế hiểm mưu gian. Ta thử nghĩ như ở “Phủ Đầu Rồng” mà còn bị gián điệp VC Phạm Ngọc Thảo chui vào ngồi bên cạnh anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và còn được trùm tình báo Trần Kim Tuyến, trùm an ninh quân đội tướng Đỗ Mậu tin dùng thì việc qua mắt, gạt lừa những vị chân tu thân phàm mắt thịt thì có gì là quá khó?

    Ngoài lực lượng SVHS Sài Gòn bị CS lợi dụng, giựt dây đấu tranh sôi nổi ra còn có các chính khách, trí thức cũng bị CS lợi dụng tiếp tay cứu nguy cho những đảng viên, SVHS đã bị bắt được thoát tù gồm 16 người trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Lê Thành Yến, Phùng Hữu Trân, Võ Ba, Hồ Nghĩa (Hồ Tâm), Cao Thị Quế Hương, Võ Thị Thu Nga… Sau này còn có một cuộc giải thoát thêm 21 người nữa. Tiêu biểu có lãnh đạo thành đoàn như Phạm Chánh Tâm (ba Vạn) Phạm Chánh Trực (năm Nghị). Sau năm 1975 các ông này đều là các lãnh đạo chủ chốt ở Tp.HCM.

    Quá trình giải thoát cho các đảng viên CS nằm vùng, SVHS VC nói trên làm cho các nhà trí thức, nhà văn và các tờ báo dưới hình thức này, hình thức nọ đã bị VC lừa mỵ và lợi dụng. Trong đó cụ thể CS đã tổ chức thành lập các tờ báo như tờ Tin Văn. Đầu xuân năm 1966 đặc khu ủy Sài Gòn-Gia Định giao cho Vũ Hạnh nhà văn CS nằm vùng đứng ra xin phép thành lập tờ báo Tin Văn với chiêu bài bảo vệ văn hóa, chống văn hóa ngoại lai, đồi trụy đầu độc thanh niên. Tờ báo được chỉ đạo trực tiếp bởi cán bộ CS kỳ cựu Trần Bạch Đằng, Chủ nhiệm Trần Mạnh Lương cùng các nhà văn và các cây bút như Lữ Phương, Hồng Cúc, Nguyễn Hữu Ba, Vũ Hạnh… Các cây bút này còn viết cho tờ Hồn Trẻ cùng với Anh Vũ, Trần Cảnh Thu, Lê Uyên Nguyên, Tuyết Hữu, Cao Hoài Hà, Trần Triệu Luật… Tờ Hồn Trẻ do Mười Hải – Bí thư khu ủy văn hóa làm chủ biên. Tòa soạn đặt ở ngôi chùa số 29 đường Trần quang Khải SG.

    Một số chùa chiền đã thành cơ sở bí mật cho CS như đã nói ở trên còn có thêm Đại học Vạn Hạnh. Theo tài liệu của thành đoàn trong sách “Trui rèn trong lửa đỏ” đã viết về Đại học Vạn Hạnh như sau “…Viện Đại học Vạn Hạnh được thành lập năm 1964… trước năm 1968, tổ chức CM cũng có hoạt động ở đây… tháng 10/1968 tình hình tổ chức CM ở trường sau thời gian bị đánh phá coi như trắng. Thành đoàn chỉ đạo đ/c sáu Tỉnh tức Đỗ Quang Tỉnh nay là cán bộ hợp tác kinh tế UBND TP HCM về xây dựng lại bằng tổ chức liên đoàn SV Phật tử Vạn Hạnh và kể từ tháng 5/1972 một chi bộ chính thức của Vạn Hạnh được thành lập”. Đặc biệt trong đó có câu quan trọng ” Từ những ngày đó, Vạn Hạnh trở thành một pháo đài xuất quân đi đốt xe Mỹ và chống bầu cử…” (sđd trang 96).

    Còn đối với chùa Ấn Quang thì ghi: “… Những ngọn lửa bùng lên tuyệt đẹp trên đường phố. Các báo gọi các chiến sĩ đốt xe Mỹ là du kích quân SVHS và chùa Ấn Quang trong những ngày ấy là một chiến lũy của họ. Những người mẹ, người chị vượt qua những hàng rào cảnh sát, lựu đạn cay, vòi rồng phun nước… đến với những đứa con ngoan của thành phố… Tụi bay cứ đốt, đốt hết quân chó đó đi… các mẹ, chị căn dặn, nhắc nhủ với một lòng căm thù như vậy.”(sđd trang 110).

    Cuốn theo vòng xoáy đó thì ở các phân khoa đại học cũng xuất hiện các báo như Hoa Súng của Dược khoa, Văn Khoa với Hạ Đình Nguyên, Đại học khoa học có tờ Lửa Hồng, tờ Dấn Thân được GS Trần Kim Thạch đỡ đầu. Luật khoa có tờ Đất Mới với Lê Hiếu Đằng, Nguyên Hạo. Tờ Học Sinh do Lê Văn Triều chủ nhiệm, Nguyễn Thị Liên Hoa quản lý. Nhưng quan trọng nhất là tờ Hồn Trẻ đã mượn danh của những cây bút nổi tiếng ở Sài Gòn lúc bấy giờ để gây thanh thế như GS Nguyễn Văn Trung, Võ Quang Yến, Trụ Vũ v.v… Riêng sinh viên Phật tử có tờ Tin Tưởng năm 1968 do Phạm Phi Long làm chủ nhiệm, Đặng Minh Chi thư ký tòa soạn. Năm 1970 thì thay Nguyễn Xuân Lập chủ nhiệm, Trần Công Sơn chủ bút và Trịnh Thị Xuân Hồng thư ký tòa soạn. Tất cả các báo trên đều dưới sự chỉ đạo của CS thành đoàn, đặc khu ủy.

    Đặc biệt trong thời gian này nhân vật quan trọng trong lĩnh vực báo chí là nhà văn Vũ Hạnh với bút hiệu cô Phương Thảo đã bị chính quyền SG bắt giữ ngày 02/6/1967 và cứ mỗi lần như vậy thì liên minh các nhà báo (VC), nhà văn, trí thức, SVHS lại đấu tranh quyết liệt bằng mọi cách lôi ông ra khỏi khám Chí Hòa.

    Tất cả các mặt nổi tôi nêu ở trên chỉ là một trong những cánh bèo bồng bềnh trên sông nước Cửu Long Giang.

    Phần chìm: Song song với những mặt nổi, thì mặt chìm của cuộc chiến nội đô tôi cũng xin vén một phần bức màn. Một phần thôi vì vũ đài chính trị Sài Gòn lúc này là một vở kịch trường thiên.

    Ngoài mặt nổi là lợi dụng các lực lượng SVHS, lừa dối các tổ chức tôn giáo, các nhà trí thức, báo chí để thực hiện mưu gian ra thì về mặt chìm cũng vô cùng sôi động. Đó là những toán đặc công, biệt động thành do Thành đoàn, Đặc khu ủy tổ chức và đảm trách gài bom các công sở, cơ quan quân sự Mỹ, VNCH, các xe quân sự đồng thời ám toán các nhân vật quốc gia nào có thể và nhất là các đối tượng mà đã biết về họ mà từ chối không theo để giữ bí mật với nhiều lý do trong đó tiêu biểu có sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật, nhân vật chính khách quan trọng như GS Nguyễn Văn Bông cùng các SV, GS khác nữa và tôi cũng sẽ có một bài viết chi tiết về trường hợp của GS Nguyễn Văn Bông và SV Lê Khắc sinh Nhật trong thời gian gần. Trong giai đoạn thập niên 60s nữ tướng đốt xe Mỹ là Võ Thị Bạch Tuyết. Sau năm 1975 về làm giám đốc nông trường Đỗ Hòa, Duyên Hải và sau đó là làm giám đốc bù nhìn ở sở LĐTBXH Tp.HCM

    Các tổ chức hoạt động về mặt chìm trong bài này có liên quan đến máu xương và chiều sâu của ý thức hệ. Do đó tôi cần phải viết rõ và phải có những tài liệu và luận chứng thật chính xác, thuyết phục, rõ ràng để cho những người trong cuộc còn hiện hữu không thể đưa ra lời phản biện cho những tội ác do họ gây ra. Trong đó những người đang vất vưởng bên lề xã hội, kẻ vẫn còn bám đuôi theo đảng mặc cho nước chảy xuôi dòng… mong được chút lợi danh an hưởng tuổi xế chiều và những người lương tâm có phần nào cắn rứt, trong lòng có chút hổ thẹn nhưng không đủ dũng khí để rũ áo sang ngang mà miễn cưởng phản biện ậm ờ như một ngọn đèn dầu leo lét trong căn chòi ở cuối bìa rừng.

    Qua những gì tôi đã viết trong bài này chắc quí vị cũng đã phần nào nhận thấy giới trí thức MNVN, SVHS SG đã bị CS lợi dụng như thế nào.

    20/10/2012

    David Thiên Ngọc

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s