Nhân Mùa Giỗ Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy: Ðọc Lại Vài Bài Học Thầy Huy

Ngày 23 tháng 7 năm 2012
H,

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy có biệt tài tìm thấy những bài học sáng giá trong các tác phẩm nổi tiếng của những tác giả thời danh được truyền tụng trong dân gian, điển hình như tìm thấy “dụng ý chánh trị” trong tác phẩm “Lục Súc Tranh Công” và rút ra được ở đó những bài học sáng giá cho cuộc đấu tranh giải thể Cộng sản độc đảng độc tài đang cai trị Việt Nam. Sách được Mekong-Tỵnạn xuất bản năm 1991. Chúng tôi xin cho đăng lại đây trích đoạn cho thấy “dụng ý chánh trị” đó như sau:

“Nhìn vào thực cảnh bi thương của người lưu dân Việt sau ngày đất nước lọt vào tay Cộng sản ngày 30 tháng 4 năm 1975; hiện nay, có rất nhiều đoàn thể và rất nhiều người quốc gia Việt Nam cùng nuôi chí khí lật đổ chánh quyền Cộng sản để phục hồi các quyền tự do cho nhơn dân Việt Nam. Nhưng vì có những quan điểm khác nhau, hoặc vì những lý do có tánh cách cá nhơn, các người và các nhóm người quốc gia khác nhau có lúc đã chỉ trích nhau mạnh mẽ, có khi còn phá hại việc làm của nhau. Bên trong mỗi nhóm, lại có những người vì tinh thần ích kỷ chủ quan mà chỉ trích chê bai chiến hữu hay đồng chí của mình đến nỗi có khi gây ra những lủng củng trong hàng ngũ. Nếu tình trạng này kéo dài thì người quốc gia Việt Nam dẫu có hy sinh tranh đấu đến mức nào cũng khó thành công được.

Khi hiệu đính, chú thích và in lại bộ “Lục Súc Tranh Công” này, ngoài việc cung cấp một tài liệu có giá trị văn chương và có thể giúp cho người Việt Nam ở hải ngoại hiểu thiêm về các tư tưởng và tin tưởng cố hữu của dân tộc, chúng tôi còn có ý đem một bài học của người xưa phổ biến cho người quốc gia Việt Nam ngày nay biết mà suy gẫm rồi thay đổi thái độ của mình. Ðiều mà chúng tôi mong ước là mọi người đều ý thức rằng không ai có thể chiến thắng Cộng sản được một mình, hay chỉ với tổ chức của mình, và tuy mọi người đều có những chỗ dở, mọi đoàn thể đều có những khuyết điểm, mọi người, mọi đoàn thể đều hữu ích và đều có thể đóng góp vào cuộc tranh đấu chung. Vậy, thay vì ganh tỵ với chiến hữu hay với đồng chí của mình và chê bai chỉ trích họ, người tranh đấu chống bạo quyền của bọn Cộng sản Hà Nội nên hòa hợp với nhau để cùng hoạt động cho đoàn thể mình mạnh lên.

Ðối với các đoàn thể khác cùng chống bọn Cộng sản Hà Nội như mình, người tranh đấu nên cố gắng có sự kết hợp để làm việc chung, nếu không được như vậy thì ít nhứt cũng nên tránh sự chỉ trích, chống báng hay phá hại việc làm của họ. Có được như vậy, người quốc gia Việt Nam mới mong đạt mục đích giải phóng dân tộc mình khỏi ách chuyên chế của bọn Cộng sản Hà Nội&” [xin xem toàn văn trong tác phẩm Lục Súc Tranh Công, trang 19-44].

Cũng vậy, đọc các tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy nhìn thấy “các ẩn số chánh trị” trong các tác phẩm này và năm 1986 Giáo sư có sáng kiến viết thành tác phẩm “Các Ẩn Số Chánh Trị Trong Tiểu Thuyết Võ Hiệp Kim Dung” [Mekong-Tynan tái bản, 2009] để từ các tác phẩm được quần chúng ưa chuộng của Kim Dung tìm ra các ẩn số chánh trị, phê bình các sự kiện, các chuyển biến hấp dẫn, lôi cuốn của cốt chuyện, các cá tính độc đáo của các nhơn vật… để từ đó phô diễn tư tưởng vừa rút ra những bài học sáng giá vừa trình bày viễn kiến của Giáo sư.

Trước đó, đọc Bộ Tây Du Diễn Nghĩa Giáo sư đã nhận ra bài học vô cùng sáng giá cho cuộc đấu tranh giải phóng đất nước khỏi thảm nạn độc đảng độc tài của Cộng sản Việt Nam. Nó được Giáo sư ghi rõ trong phần cuối của bài viết “Nhân Năm Quy Hợi [1983] Nói Chuyện Về Bộ Tây Du Diễn Nghĩa Và Trư Bát Giới”. Ðó là:

“Bài học mà tác giả Tây Du Ký Diễn Nghĩa muốn đưa ra trong bộ sách này là sự liên đới giữa những người cùng lãnh thi hành một nhiệm vụ, như các bộ phận khác nhau họp lại làm con người. Bốn thầy trò Tam Tạng phải đi chung nhau mới đến tây phương. Ngay cả phần tử có nhiều nhược điểm như Trư Bát Giái cũng cần thiết và các nhơn vật khác có bực bội nhưng vẫn phải dung nạp Trư Bát Giái. Nếu chúng ta so sánh việc tranh đấu để giải phóng đất nước khỏi ách bọn cộng sản Hà Nội với việc thỉnh kinh, chúng ta cũng phải có tinh thần cởi mở, dung nạp những phần tử mà chúng ta xem là không hoàn mỹ thì mới có thể đi đến sự thành công”.

Hôm nay, nhân mùa Giỗ năm thứ 22 của Giáo sư [qua đời ngày 28.7.1980 tại Paris, Pháp quốc] do yếu tố thuận lợi của không gian và thời gian Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy sẽ tổ chức lễ giỗ ở 2 thành phố Oakland và Sacramento, Bắc California, vào các ngày 18 và 19.8.2012 [Thiệp mời đính kèm trong attachmnet dạng pdf], chúng tôi xin cho đăng lại đây toàn văn bài viết như một nén nhang kính dâng hương linh Giáo sư; đồng thời cũng tự nhắc bài học sáng giá nêu trên. Sau đây là toàn văn bài viết:

“Người Trung Hoa được xem như giống dân có biệt tài kể chuyện. Nhiều bộ sách trường thiên của họ, từ các tác phẩm cổ điển đến những pho kiếm hiệp cận đại đã hấp dẫn được một số rất đông người đọc. Không những người bình dân và trẻ con say mê theo dõi câu chuyện vì các sự kiện ly kỳ, các tình tiết gay cấn, nhiều người trí thức cũng thích thú khi đọc các sách ấy và tìm thấy trong đó những ngụ ý triết lý thâm trầm.

Tây Du Ký Diễn Nghĩa là một trong những tác phẩm nổi tiếng và hội tập được các đặc tính trên đây. Chuyện thầy trò Tam Tạng đi thỉnh kinh bị yêu quỉ ngăn trở hãm hại và nhờ Trời Phật Thánh Thần phù trì giúp đỡ đã lôi cuốn được cả đại chúng lẫn người trí thức. Việc tác giả mượn cốt chuyện ly kỳ của Tây Du Ký Diễn Nghĩa để nêu ra một quan niệm triết lý về con người là điều không ai có thể phủ nhận được. Tuy nhiên, về dụng ý của ông, người ta đã có những ý kiến khác nhau.

Trong bản dịch bộ Tây Du Ký Diễn Nghĩa ra Việt ngữ xuất bản ở Sài Gòn năm 1962, ông Phan Quân cho rằng có hai lối giải thích khác nhau:

1. Tác giả muốn mô tả một cuộc xung đột giữa hai phe chánh và tà.

2. Thầy trò Tam Tạng là những nhơn vật điển hình cho các phần khác nhau của con người: Tam Tạng điển hình cho lý trí, Tôn Hành Giả điển hình cho sức mạnh, Trư Bát Giái điển hình cho dục vọng, Sa Tăng điển hình cho tánh biếng nhát, con ngựa điển hình cho phương tiện.

Ông Phan Quân đã nghiêng về lối giải thích thứ nhì kể trên đây. Lối giải thích nầy có những điểm đúng, nhưng không phù hợp hoàn toàn với các chi tiết trong bộ Tây Du Ký Diễn Nghĩa. Tam Tạng đã bị gạt gẫm nhiều lần một cách quá dễ dàng nên khó thể xem ông là tượng trưng cho lý trí. Về sự biếng nhát, nó không phải là đặc tính của một mình Sa Tăng vì Trư Bát Giái cũng có tật xấu ấy.

Do các nhận xét trên đây chúng tôi nghĩ rằng lối giải thích do một số người theo Thông Thiên Học đưa ra vào lúc Thế Chiến II có lẽ thích hợp hơn. Theo lối giải thích nầy, Tam Tạng tượng trưng cho linh hồn, Tôn Hành Giả tượng trưng cho trí thông minh, Trư Bát Giái tượng trưng cho bản năng và Sa Tăng tượng trưng cho thể xác. Chúng ta có thể nói thêm rằng con ngựa tượng trưng cho lòng dũng cảm của con người. Nhiều dữ kiện trong Tây Du Ký Diễn Nghĩa cho phép chúng ta nghĩ rằng lối giải thích trên đây phù hợp với tư tưởng của tác giả bộ sách ấy.

* * *

Theo các tôn giáo, linh hồn con người là một bộ phận hay một sản phẩm của vị chúa tể muôn loài, vì một lý do nào đó mà phải xuống ở chốn trần gian. Nơi đây, linh hồn người ta là một đối tượng tranh giành giữa thánh thần và ác quỉ, một bên muốn cho linh hồn tu niệm để trở về thượng giới, một bên muốn lôi kéo linh hồn sa đọa thêm và rơi hẳn vào nơi hắc ám muôn đời.

Trong Tây Du Ký Diễn Nghĩa, Tam Tạng vốn là Kim Thiền Trưởng Lão, một đệ tử của Ðức Phật ở cõi trên, vì phạm lỗi mà bị đưa xuống trần. Ông đã đi tu từ nhỏ, và việc đi thỉnh kinh cốt để ông có đủ công quả cần thiết để thành Phật. Ông đã được Quan Thế Âm Bồ Tát và nhiều thần thánh giúp đỡ. Trong khi đó, bọn ma quỉ yêu quái tìm mọi cách bắt ông để ăn thịt. Chúng đồn đãi với nhau rằng ăn một miếng thịt của Tam Tạng như uống thuốc trường sanh, sống lâu ngàn tuổi. Ðó là dấu hiệu cho thấy quyết tâm của chúng muốn tranh đoạt Tam Tạng cho bằng được. Câu chuyện đi thỉnh kinh cho rằng Tam Tạng tượng trưng cho linh hồn con người hướng về cõi trên, nhưng trong việc tìm về cõi trên lại bị nhiều ngăn trở, nhiều lôi cuốn phát xuất không những từ nơi ác quỉ, mà còn nơi những nhược điểm của chính mình. Nếu không có sự thành khẩn và kiên quyết tu niệm, cùng sự giúp đỡ của thần thánh, linh hồn rất khó trở về cõi trên.

* * *

Về phần Tôn Hành Giả, nhiều chi tiết trong Tây Du Ký Diễn Nghĩa cho thấy rằng ông tượng trưng cho trí thông minh. Nhưng muốn hiểu rõ dụng ý của tác giả bộ sách này, ta cần phải nhớ rằng người Trung Hoa không xem trí thông minh là sản phẩm của bộ óc như người Tây phương. Ðối với họ, trí thông minh phát xuất từ lòng dạ, hay nói rõ hơn nữa từ quả tim.

Theo tác giả Tây Du Ký Diễn Nghĩa, Tôn Hành Giả ở núi Hoa Quả, động Thủy Liêm. Hai địa danh này dùng để ám chỉ phổi và tim. Cuống phổi của người chia ra làm hai nhánh mang hai buồng phổi được xem như là một cái cây có hai cành mang hoa quả. Về tên Thủy Liêm, nó có nghĩa là Rèm Nước và dùng để mô tả quả tim, vì quả tim có những buồng trống đựng máu, khi tim bóp lại thì máu từ buồng trống vọt ra để chảy vào đại động mạch. Các tia máu vọt ra được so sánh với một rèm nước, và muốn vào bên trong quả tim, phải vượt qua rèm nước ấy.

Nơi Tôn Hành Giả học đạo là núi Linh Ðài Phương Thốn, động Tà Nguyệt Tam Tinh. Linh Ðài Phương Thốn có nghĩa là cái đầu vuông một tấc. Ðó là tên mà người Trung Hoa ngày xưa dùng để chỉ quả tim hay tâm địa người. Trong bộ Minh Tâm Bửu Giám có câu thơ:

Ðản tồn phương thốn địa
Lưu dữ tử tôn canh.
(Chỉ còn một mảnh đất vuông một tấc để cho con cháu cày cấy)

Tác giả câu thơ này muốn dạy rằng việc để lại ruộng đất minh mông cho con cháu không hữu ích bằng sự vun bồi đạo đức, thi ơn huệ cho người khác.

Ruộng đất minh mông có thể mất vì lý do này hay lý do khác mà con cháu lãnh ruộng đất đó có thể bị đói hay bị tai họa vì sự tranh giành của người khác. Trái lại tấc lòng tốt của mình và của con cháu mình sẽ được sự báo đáp của những kẻ thọ ơn và con cháu mình sẽ không sợ đói hay bị hãm hại. Cũng trong Minh Tâm Bửu Giám, có câu thơ:

Tam điểm như tinh tượng
Hoành câu tư nguyệt tà.
(Ba chấm như hình ngôi sao
Một cái móc nằm ngang tựa như vành trăng khuyết)

Hai câu thơ này mô tả chữ tâm là tim hay lòng dạ. Trong Truyện Kiều, thi sĩ Nguyễn Du đã mượn ý này để nói đến việc Kiều nhớ Thúc Sinh (vốn tên là Kỳ Tâm):

Ðêm thu gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời.

Vậy núi Linh Ðài Phương Thốn và động Tà Nguyệt Tam Tinh đều chỉ tim hay lòng dạ. Theo người Trung Hoa, đó là nơi trí thông minh của con người phát xuất và được rèn luyện.

Một số chi tiết khác của Tây Du Ký Diễn Nghĩa cho thấy rằng Tôn Hành Giả tượng trưng cho trí thông minh của người. Tôn Hành Giả cốt là con khỉ hay leo trèo không thể ngồi yên một chỗ, lại học được phép cân đẩu vân, nhảy một cái đến hàng muôn dặm cũng như trí con người từ việc này liên tưởng sang việc khác cách biệt nhau rất xa. Muốn thành công, người phải tập trung tư tưởng vào một đề tài. Ðó là việc khó khăn cho trí óc người nên tác giả Tây Du Ký Diễn Nghĩa đã dùng hình ảnh của một Kim Cô xiềng đầu Tôn Hành Giả và có thể làm cho Tôn Hành Giả nhức đầu để nói đến nó. Trí thông minh của người có thể ứng phó với mọi hoàn cảnh và điều này được diễn tả qua 32 phép biến hóa của Tôn Hành Giả và qua cây thiết bảng mang tên là Như Ý Kim Cô có thể trở thành lớn hay nhỏ theo sự điều khiển của người sử dụng. Theo tác giả Tây Du Ký Diễn Nghĩa trí thông minh phát xuất từ vật chất và phải bị vật chất chi phối. Do đó, Tôn Hành Giả được xem là trứng đá nở ra và khi bị đè dưới núi Ngũ Hành thì không tự thoát ra được. Dầu vậy, trí thông minh của người làm cho người tự hào xem mình là một vật linh thiêng trong vũ trụ và xưng mình là Tề Thiên Ðại Thánh, tức là ông thánh ngang với trời. Ðiều có thể làm cho người đọc thắc mắc là tài năng Tôn Hành Giả: lúc loạn thiên cung thì đánh thắng các thánh thần một cách tương đối dễ dàng, nhưng khi đưa Tam Tạng đi thỉnh kinh thì thường không đương cự nổi lũ yêu quái, nhiều khi chỉ là thuộc hạ của các vị thánh thần đã từng thua mình. Tuy nhiên, nếu xem Tôn Hành Giả là tượng trưng cho trí thông minh, ta có thể giải thích được việc ấy: thời kỳ Tôn Hành Giả loạn thiên cung ám chỉ giai đoạn trí thông minh thiết lập kế hoạch và vượt qua các trở lực lý thuyết một cách dễ dàng, thời kỳ Tôn Hành Giả đưa Tam Tạng đi thỉnh kinh ám chỉ giai đoạn trí thông minh thực hiện kế hoạch và có thể thất bại trước các trở lực rất nhỏ.

* * *

Phần Trư Bát Giái tượng trưng cho bản năng làm nền tảng cho dục vọng của con người. Trong Tây Du Ký Diễn Nghĩa, Trư Bát Giái được trình bày như là con heo và có nhiều tật xấu, biếng nhát, dối trá, tham lam, hay gièm siểm… Khi được sai đi công tác, Trư Bát Giái thường tìm chỗ ngủ cho đã rồi trở về báo cáo láo. Gặp đàn bà con gái đẹp, Trư Bát Giái thường chọc ghẹo hay có ý muốn bỏ việc đi thỉnh kinh để cưới họ làm vợ. Có cơ hội dự tiệc tùng hay nếm món ngon vật lạ, Trư Bát Giái rất ham ăn và thường tỏ ra rất thô tục. Lúc bình thường, Trư Bát Giái nịnh bợ Tam Tạng và kích bát Tôn Hành Giả, xúi giục Tam Tạng trừng phạt Tôn Hành Giả. Nhưng gặp sự khó khăn, Trư Bát Giái lại dễ ngã lòng và thiên về chủ trương bỏ cuộc. Những tật xấu trên đây quả là biểu tượng của bản năng và dục vọng thấp kém của con người. Nhưng bản năng và dục vọng cũng có thể thúc đẩy con người có những hành động tốt. Nghe Quan Thế Âm Bồ Tát khuyên nhũ, Trư Bát Giái đã hăng hái xin đi bảo vệ người thỉnh kinh. Cũng chính Trư Bát Giái là nhơn vật xung phong cào quét gai góc trong núi Kinh Cát và các lớp hồng rụng trong truông Thập Tuyệt để dọn đường cho đoàn thỉnh kinh. Ðó là những việc làm nặng nhọc, hôi hám. Nhưng ngoài nhu cầu dọn sạch đường để đi thỉnh kinh, Trư Bát Giái còn được khích lệ vì ý tưởng được những bộ hành tương lai của các con đường ấy ca ngợi.

* * *

Sa Tăng là tượng trưng cho thể xác muốn sống, thể xác này phải được dinh dưỡng với những món ăn mà một phần là thịt cầm thú. Theo quan niệm nhiều nhà thần học, cầm thú cũng là sinh vật do tạo hóa sanh ra và có thể xem như là đàn em của loài người. Bởi đó, Tây Du Ký Diễn Nghĩa mô tả Sa Tăng như một con quái ăn thịt người. Thể xác người vốn không có chủ trương riêng biệt và có thể tuân lịnh của trí thông minh hay của bản năng. Bởi đó, trong Tây Du Ký Diễn Nghĩa, Sa Tăng đã giữ vị trí trung lập giữa Tôn Hành Giả và Trư Bát Giái, không can ngăn khi Tam Tạng nghe lời gièm siểm của Trư Bát Giái mà niệm chú cân cô cho Tôn Hành Giả nhức đầu. Mặt khác, Sa Tăng sẵn sàng làm theo lịnh của Tôn Hành Giả như của Trư Bát Giái.

* * *

Trong xã hội cổ, con ngựa là một sinh vật dùng trong chiến trận. Ở Trung Quốc thời xưa, viên quan coi về quốc phòng mang tước hiệu là Tư Mã. Do đó, trong Tây Du Ký Diễn Nghĩa, con ngựa tượng trưng cho lòng dũng cảm. Ðó là một yếu tố cần thiết cho con người trong sự phấn đấu để đạt mục tiêu. Tuy nhiên, lòng dũng cảm có thể dùng để đạt những mục tiêu thấp hèn như trường hợp kẻ cướp rất can đảm trong việc đánh người lấy của. Người tu niệm muốn thành chánh quả phải có một lòng dũng cảm trong sạch hướng đến việc thiện. Bởi đó, trong Tây Du Ký Diễn Nghĩa, con ngựa được Tam Tạng cởi đi đến tây phương là con ngựa Kim do một con rồng bạch biến hóa ra. Cốt rồng và sắc trắng của con ngựa này dùng để biểu hiện lòng can đảm cao quí và trong sạch của một linh hồn thật tâm hướng thiện, xứng đáng được trở về thượng giới.

* * *

Bốn thầy trò Tam Tạng và con ngựa hợp lại thành một con người đầy đủ trên con đường học đạo. Tam Tạng là linh hồn, một yếu tố căn bản của con người nên đóng vai tuồng chủ tể mặc dầu tài sức thua các đệ tử rất xa. Rồi khi Tam Tạng nghe theo lời Trư Bát Giái tượng trưng cho bản năng và dục vọng thì bị gặp khó khăn và thất bại, còn nghe theo lời Tôn Hành Giả tượng trưng cho lý trí thì được yên ổn và tiến lên được. Trư Bát Giái tượng trưng cho bản năng và dục vọng có thúc đẩy Tam Tạng đi vào đường sai quấy, nhưng cũng có xung phong làm những việc khó khăn hôi hám như cào quét gai góc trong núi Kinh Cát và các lớp hồng rụng trong truông Thập Tuyệt. Tôn Hành Giả tượng trưng cho lý trí nên có tánh cách thanh bai hơn và không làm được các công việc đó. Vậy, tuy có nhiều tật xấu, Trư Bát Giái là một nhơn vật cần thiết trong việc thỉnh kinh. Mặc dầu thụ động, Sa Tăng tượng trưng cho thể xác và con ngựa tượng trưng cho lòng can đảm cũng là những nhơn vật không có không được. Bài học mà tác giả Tây Du Ký Diễn Nghĩa muốn đưa ra trong bộ sách này là sự liên đới giữa những người cùng lãnh thi hành một nhiệm vụ, như các bộ phận khác nhau họp lại làm con người. Bốn thầy trò Tam Tạng phải đi chung nhau mới đến tây phương. Ngay cả phần tử có nhiều nhược điểm như Trư Bát Giái cũng cần thiết và các nhơn vật khác có bực bội nhưng vẫn phải dung nạp Trư Bát Giái. Nếu chúng ta so sánh việc tranh đấu để giải phóng đất nước khỏi ách bọn cộng sản Hà Nội với việc thỉnh kinh, chúng ta cũng phải có tinh thần cởi mở, dung nạp những phần tử mà chúng ta xem là không hoàn mỹ thì mới có thể đi đến sự thành công. Nguyễn Ngọc Huy”.

Hẹn con thư sau,

Giáo Già

www.vietvungvinh.com/

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s