Những Ký Ức Luôn Bị Ám Ảnh Về Những Người Bạn Dũng Cảm

John Stryker Meyer
North County Times
April 30, 2000

Khi tôi chết, nếu Thượng Đế cho tôi một ít giây phút để tôi suy nghĩ lại một
vài sự việc trước khi tôi thở hơi thở cuối cùng, những ý nghĩ đầu tiên của tôi
sẽ không phải cho những người thân yêu, không phải cho đám con tôi. Tôi
sẽ nghĩ đến và cảm ơn Thượng Đế đã ban cho tôi Sáu, Hiệp, Phước, Tuấn, 
Hùng, Sơn, Quang, Châu, Cầu và Minh. Hai Đại Uý Thịnh và Tường, cùng hai
Trung Uý Trung và Trọng sẽ luôn ngự trị trong tâm tưởng tôi. Sau đó, tôi sẽ
nghĩ đến người vợ yêu dấu, những đứa con tài hoa và các bằng hữu quí mến
của tôi.

Tại sao lại là những người đàn ông Việt Nam trước những người thân của
tôi?

Không có lòng dũng cảm, kiên cường, không hề biết sợ hãi của những chiến
sĩ ấy trong cuộc chiến tranh bí mật của Hoa Kỳ tại Đông Nam Châu Á, tôi sẽ
không bao giờ trở về được Hoa Kỳ.

Hôm nay, tưởng niệm 25 năm ngày mất Sài Gòn, tôi sẽ dành một phút để
chào kính những người dũng sĩ, những người đàn ông mà hầu hết những
người Hoa Kỳ sẽ không bao giờ biết đến, tính luôn cả hơn ba triệu người lính
Hoa kỳ đã được gởi đến Nam Việt Nam trong cuộc chiến dài và tốn kém nhất
của Hoa Kỳ.

Có quá nhiều người không tôn trọng hay thân chào những người Việt đã
chiến đấu tại Việt Nam. Lý do là vì quốc gia của chúng ta đã không hướng
dẫn cho họ biết về người Việt, phong tục, tập quán và về cái đất nước mà
chính quyền đã gởi chúng ta đến. Là những người lính Green Beret, chúng
tôi đã chiến đấu bên cạnh họ, vui đùa với họ và biết thêm về gia đình,
những giấc mơ, hy vọng và những nỗi lo âu của họ.

Nhóm đầu là các toán viên của toán Idaho, toán thám sát cho các công tác
bí mật trong đất Miên, Lào và Bắc Việt nằm dưới sự điều động của Military
Assitance Command Vietnam – SOG. Các đơn vị của Green Berets, Navy
Seals, và các toán Trinh Sát của TQLC Hoa Kỳ cung cấp và điều khiển nhiều
cuộc hành quân bí mật khắp suốt Nam Việt Nam.

Tôi gia nhập toán Idaho vào tháng Năm năm 1968 sau khi sáu toán viên
của toán biến mất trong một khu vực của một mục tiêu bên đất Lào. Ba
người lính Mũ Xanh Hoa Kỳ và ba người lính “đánh thuê” Việt Nam sẽ không
bao giờ được nghe đến và vẫn còn nằm trong danh sách mất tích cho đến
ngày hôm nay. Năm 1968, toán Idaho hành quân bên ngoài Phú Bài, cách
phía nam Huế mười dặm. Trong tháng Năm có ba mươi toán thám sát trong
căn cứ. Vào tháng Mười Một, chỉ còn duy nhất toán Idaho là toán còn đi
hành quân. Quân địch tại Lào, Miên và Bắc Việt là những tên lính được huấn
luyện kỹ càng, trang bị đầy đủ và rất liều mạng.

Hai Đại Uý Tường, Thịnh và hai Trung Uý Trung, Trọng là những viên phi
công bay trực thăng Sikorsky H-34 của Phi Đoàn 219 cho SOG. Hết lúc này
đến lúc khác, họ bay những chiếc trực thăng cũ kỹ H-34 mà chúng tôi gọi là
Kingbee vào những bãi đáp, những nơi mà quân địch cố gắng bắn rơi họ từ
trên không trung.

Trong nhiều tháng trong năm 1968, các chiếc Kingbee là những chiếc trực
thăng mang các toán SOG bay qua biên giới, vào sâu trong nội địa của quân
địch. Tại đất Lào, CIA đoán có khoảng từ 30,000 đến 40,000 quân lính Bắc
Việt lo nhiệm vụ bảo vệ con đường mòn HCM, con đường vận chuyển
quân dụng và vũ khí từ Bắc vào Nam Việt Nam và – đánh nhau với các toán
SOG.

Trong 17 tháng ở trong toán Idaho, chúng tôi luôn luôn rời mục tiêu với sự
bắn phá dữ dội của quân lính Bắc Việt. Đường về lại căn cứ luôn là trên
những chiếc Kingbee. Và, mỗi lần chúng tôi cần họ, họ luôn đến, không
thèm đếm xỉa tới đạn địch bắn ác liệt đến cỡ nào. Rất nhiều người lính Mũ
Xanh còn sống sót đến ngày hôm nay là nhờ vào cái tài bay bổng không thể
tưởng tượng được của các viên phi công Kingbee Việt Nam. Và nếu không có
các toán viên Việt và Nùng, sẽ có nhiều hơn 161 người lính Mũ Xanh hy sinh
cho các công tác của SOG.

Sáu là trưởng toán người Việt của toán Idaho. Khi tôi đặt chân đến Phú Bài,
Sáu đã chiến đấu với Lực Lượng Đặc Biệt gần năm năm. Chỉ cân nặng 100
cân anh, quá gầy. Sáu có một giác quan thứ sáu rất phi thường: anh có thể
“ngửi” được quân địch. Trong rừng, anh di chuyển nhẹ nhàng, kín đáo, luôn
chỉ trích các bạn đồng nhiệm Hoa Kỳ, khi cần. Hiệp là thông dịch viên cho
toán, thỉnh thoảng, anh chỉnh sửa văn phạm tiếng Anh cho các người lính
Hoa Kỳ, anh nói thông thạo cả tiếng Pháp, Việt và một ít tiếng Tàu. Phước,
Châu, Sơn và Hùng tình nguyện đăng lính Lực Lượng Đặc Biệt khi họ mới 15,
16 tuổi. Sau hàng trăm giờ huấn luyện, tuổi của họ không còn là vấn đề vì
họ chiến đấu rất ngon lành trong chiến trận.

Vào ngày 7 tháng Mười năm 1968, sau khi toán Idaho cố gắng thoát khỏi
các tên truy lùng, toán bị quân lính Bắc Việt để súng vào thế tự động, tấn
công. Sáu đã lên tiếng báo động là bọn chúng đang đến gần. Tuy các người
lính Hoa Kỳ không nghe thấy gì, nhưng Sáu, Phước, Hiệp và Don Wolken
luôn cảnh giác, với vũ khí để tự động, sẵn sàng khai hỏa.

Các giây phút đầu tiên trong những lúc đánh nhau rất là quan trọng. Những
cây súng tiểu liên chúng tôi mang theo bắn 20 viên đạn trong vòng một
giây rưỡi. Sáu, Phước và Hiệp thay băng đạn mới, bắn đuổi quân lính Bắc
Việt trở xuống đồi. Chúng tôi giành được ưu thế về hỏa lực, nhưng quân Bắc
Việt luôn tiến đến chúng tôi. Về sau, chúng bắn vào chúng tôi từ đằng sau
các thân xác chết chất đống lại của bọn chúng. Chúng tiến đánh chúng tôi
từ hai giờ trưa tới khi trời chập tối. Hết đợt tấn công này đến đợt tấn công
khác, cố gắng tràn ngập vị trí chúng tôi. Chúng tôi được sự yểm trợ của
Không Quân Hoa Kỳ từ các chiếc Phantom, Skyraider và Gunship luôn bỏ
bom, bom cluster, bom napalm, và các đợt bắn phá bằng đại liên và súng cà
nông khác. Đó là lần đầu tiên tôi nhớ lại thây người cháy khét. Đến khi trời
chạng vạng tối, chúng tôi chỉ còn lại ít đạn, lựu đạn và một ít đạn phóng lựu.
Đại Uý Thịnh bay chiếc H-34 vào một cái gò cao nhỏ bên cạnh vị trí chúng
tôi, điều khiển trực thăng bay lơ lửng trên một đám cỏ voi – cỏ voi dầy và
cao hơn 12 feet. Bởi vì cái đám cỏ quá dầy và quân Bắc Việt cố gắng bám
sát lưng, phải cần nhiều phút để đến được chiếc Kingbee. Khi tôi đến được
dưới trực thăng, tôi nhìn lên Đại Uý Thịnh, đang ngồi trên ấy, điềm tĩnh như
cơn gió lạnh của rặng núi Rocky Mountain vào mùa Xuân, và ông mỉm cười.
Cuối cùng, chúng tôi lên được trực thăng, và ông ta kéo chúng tôi ra khỏi
nơi ấy. Sáu, Hiệp, Phước và tôi bắn hết những băng đạn cuối cùng, và thảy
hết những trái lựu đạn cuối lúc chúng tôi rời khỏi vùng, dưới hỏa lực ác liệt
của quân địch. Chỉ trong vòng vài phút, chúng tôi bay ở cao độ 4,000 feet,
hướng về Phú Bài. Chúng tôi bình an vô sự. Nhưng, chiếc Kingbee bị lựu đạn
và đạn địch làm thủng 48 lỗ ngay hai bên hông trực thăng và cánh quạt.
Qua ngày hôm sau, người lính Hoa Kỳ vừa gia nhập toán được một thời gian
ngắn, bỏ cuộc. Sáu, Hiệp và Phước dùng buổi cơm tối và tôi sắp xếp cho Sáu
và Hiệp được phép về với gia đình họ ngay tối hôm ấy.

Câu chuyện trên hé lộ ra hàng trăm diễn biến về lịch sử của SOG. Tôi luôn
mang trong người một nỗi ám ảnh, mặc cảm có tội vì đã bỏ rơi các người bạn
Việt thân quí của tôi tại Nam Việt Nam.

John Stryker Meyer, phóng viên báo North County Times.
Phục vụ trong Lực Lượng Đặc Biệt 1968-1970.

Sài Gòn Nhỏ ngày 15 tháng Chín năm 2011

Nguyễn Văn Phúc

www.canhthep.com/

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s