Nhìn lại những năm Con Rồng trong lịch sử

Sưu tầm của GS Nguyễn Lý-Tưởng

Trong tác phẩm “VANG BÓNG MỘT THỜI” nhà văn Nguyễn Tuân (thời tiền chiến 1945) đã giới thiệu các biến cố của năm 1916 (Bính Thìn) với lời mở đầu hết sức trịnh trọng: “quyển lịch năm đó, màu vàng, bìa đỏ, có mang kim ấn niên hiệu Duy Tân Thập Niên…” Năm đó, vua mất ngôi, quan mất việc, thiên tai bão lụt, mất mùa, dân đói khát nằm chết dọc đường… Trước khi nhìn lại những năm Thìn trong lịch sử, chúng ta thử tìm hiểu quan niệm của người Trung Hoa xưa về năm Thìn tốt, xấu như thế nào?

Năm THÌN là Năm CON RỒNG, đứng hàng thứ 5 trong 12 con giáp… Người Tàu, người Nhật, Đại Hàn hay Việt Nam đều tin rằng tuổi con rồng là tuổi may mắn. Rồng tượng trưng cho con vật linh thiêng, bay cao trên mây, ít ai thấy được rồng xuất hiện. Gần như rồng là con vật tưởng tượng của người Tàu… Rồng là biểu tượng của nhà vua, thấy được mặt vua thì gọi là thấy “long nhan” (mặt rồng), “long sàng” là cái giường của vua nằm, “long vị” là chỗ vua ngồi, địa vị của vua. Chôn trúng chỗ “hàm rồng”, “long mạch” là chỗ kết phát, con cháu sẽ giàu sang, phú quý. Những câu chúc tụng như: “Long đằng, vân phi” (rồng lên thì mây bay) ý nói sự nghiệp vẻ vang đến, thỏa chí vẫy vùng… Nam Nhâm, Nữ Quý… nếu là con trai mà sinh năm Nhâm Thìn thì rất tốt, đường xuất ngoại hanh thông, “sống ở làng, sang ở nước” thoát được cảnh chân lấm tay bùn nơi quê nghèo, để ra đi làm quan ở nơi quyền thế, vẻ vang… Người ta cũng nói “Nam: Đinh, Nhâm; Nữ: Quý, Giáp”, con trai sinh vào năm Đinh, năm Nhâm; con gái sinh vào năm Quý,năm Giáp… là số tốt, học giỏi, tài cao, khôi ngô, tuấn tú, làm nên giàu sang, phú quý… Dân tộc Việt chúng ta cho mình là con cháu “Tiên, Rồng”, xuất thân từ một tổ tiên anh hùng, linh thiêng hơn giống người khác. Biểu tượng con rồng rất được người mình ưa thích, thường trang trí hình con rồng, con phượng…

Năm 2012 là năm NHÂM THÌN, là năm tốt theo quan niệm: nam Đinh, Nhâm; nữ Quý, Giáp …Thực tế có đúng như vậy hay không thì những người mang tuổi Đinh, Nhâm, Quý, Giáp mới có kinh nghiệm về vấn đề nầy.

Theo chúng tôi, thì tuổi THÌN cũng có người tốt, người xấu… Nói chung, người Việt Nam trong thế kỷ 20 này, không gia đình nào tránh khỏi hoạn nạn vì chiến tranh, vì thay đổi chế độ, thay đổi nếp sống xã hội, phải ly tán, mất quê hương, xa bà con họ hàng, bè bạn…

Theo Sấm Trạng Trình: (trích lại tài liệu được phổ biến trứơc 1975 tại Miền Nam VN cho rằng do Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm viết vào năm Nhâm Tý, 1552 từ câu 398 như sau):

“Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ động đao binh
Mã đầu dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình”

(Cuối năm Thìn, đầu năm Tỵ bắt đầu chiến tranh
Nơi nơi đều xảy ra cuộc đao binh
Đầu năm Ngọ, cuối năm Mùi thì anh hùng hết số
Năm Thân, năm Dậu sẽ thấy cảnh thái bình)

Tiếp theo, từ câu 410 như sau:

“Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An”

(số 9 là số càn khôn đã định
Tiết Thanh minh mà hoa tàn
Đầu năm Mùi cuối năm Ngọ
Quân Hồ tám vạn vào Tràng An)

Tràng An được hiểu là Kinh đô củaViệt Nam ngày xưa. Hồ binh bát vạn được hiểu là quân Tàu khoảng 8 vạn xâm nhập kinh đô…

Các con số 9 mà chúng ta biết là 1945, 1954, 1963, 1972, 1981, 1999, 2009, 2016, 2018… là những năm có số 9 hoặc cộng lại thành số 9… Năm Thìn 2012 nằm trong “Cửu cửu càn khôn dĩ định” và “Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh” như nhiều người hiểu phải là năm Nhâm Thìn 2012 nầy… sẽ có nhiều biến cố xảy ra cho nước Việt Nam. Chúng tôi cũng được biết có một nhóm người tại Việt Nam (vùng Long Khánh-Bình Tuy) thường họp nhau cầu nguyện và nhận được những tin tức qua một người chỉ có trình độ học vấn lớp 3 tiểu học. Người nầy cho biết đã được Đức Mẹ Maria mạc khải cho biết năm 2012 là năm bắt đầu có biến cố (từ 1972 đến 2012 là 40 năm) khởi đi từ năm 1972 biến cố xảy ra tại Quảng Trị với “Đại lộ kinh hoàng tại Quảng Trị” là ‘biển máu” và 40 năm sau 2012 là kết thúc… Năm 2012 là năm Nhâm Thìn sẽ có biến cố lớn cho nước Việt Nam… Điều nầy cũng phù hợp với “Sấm Trạng Trình”: “Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh” (cuối năm Thìn đầu năm Tỵ… sẽ có chiến tranh). Cuối năm Thìn (2012) đầu năm Tỵ (2013) nằm trong “Cửu cửu càn khôn dĩ định”… Năm 2016 là năm có số 9: 2+1+6=9 là năm có số 9… Cách nay mấy năm, Đức Giám Mục Nguyễn Thanh Hoan ở Phan Thiết (nay đã về hưu) có ra một thông cáo nhắc nhở giáo dân không nên nghe theo những tin đồn do nhóm nầy đưa ra.

Sau đây, xin ghi lại một vài năm THÌN có nhiều biến cố trong lịch sử với mục đích giúp mọi người biết lịch sử nước nhà trải qua thời cổ đại, cận đại cũng như hiện đại để mà “Ôn cố, tri tân.”

GIÁP THÌN (257 trước Công Nguyên): An Dương Vương lập ra nước Âu Lạc.
Theo truyền thuyết, Quốc Tổ nước ta là Hùng Vương, họ Hồng Bàng, truyền được 18 đời, binh hùng tướng mạnh, độc lập một phương, lân bang kính nể. Hùng Vương có người con gái tên là Mỵ Nương, nhan sắc tuyệt trần. Vua nước Thục muốn hỏi làm vợ mà không được, nhiều lần đem quân đến đánh đều thất bại nên trước khi chết dặn con cháu phải trả thù. Vua Hùng Vương thứ 18 vì ham mê tửu sắc, ăn chơi không lo bảo vệ giang sơn nên bị cháu vua Thục là Thục Phán đem quân đánh lấy mất nước. Năm Giáp Thìn (257 trước Công Nguyên), Thục Phán tự xưng là An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc (tức Âu Việt và Lạc Việt), đóng đô ở Phong Khê (nay là huyện Đông Anh, tỉnh Vĩnh Phú). Thục Vương xây Loa Thành, có hình trôn ốc (Loa là con ốc) và chế ra được nỏ thần rất lợi hại. Hiện nay còn dấu tích ở làng Cổ Loa, huyện Đông Anh.

Triệu Đà là quan của nhà Tần (221-206 trước Công Nguyên) lợi dụng lúc nhà Tần suy yếu bèn tự xưng làm vua, đặt tên nước là Nam Việt. Triệu Đà cho con là Trọng Thủy hỏi con gái của An Dương Vương Thục Phán làm vợ và đi lại để ý dò xét bí mật Nỏ Thần của Âu Lạc. Sau đó Triệu Đà mới đem quân đánh lấy nước Âu Lạc của Thục Phán.

Thục Phán không ngờ nên bị thua, một mình lên ngựa đem theo con gái là Mỵ Châu bỏ chạy. Trọng Thủy, con Triệu Đà đem quân đuổi theo. Thục Phán cùng đường bèn rút gươm giết con gái rồi nhảy xuống biển tự tử. Trọng Thủy đến nơi, thấy xác vợ nằm chết giữa đường, quá hối hận bèn nhảy xuống giếng tự tử… Triệu Đà đem nước Âu Lạc nhập làm một với nước Nam Việt dưới quyền cai trị của mình.

GIÁP THÌN (137 trước Công Nguyên): Triệu Đà tức Triệu Vũ Vương mất, thọ 121 tuổi. Cháu đích tôn (con của Trọng Thủy) là Triệu Hồ lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Triệu Văn Vương.

Thời nhà Tần, Triệu Đà được lệnh đem quân lính vượt Ngũ Lĩnh đi về phương Nam để mở rộng lãnh thổ. Ngoài ra Triệu Đà còn đem theo cả những người bị án tù tội, những người con trai ở gởi rể và những người thất nghiệp đi theo để khai phá Miền Nam Ngũ Lĩnh. Quân lính được lệnh đem theo cả vợ con gia đình, định cư luôn không được trở về quê cũ. Triệu Đà còn gởi thư về cho vua Tàu xin thêm một số đàn bà góa, con gái ế chồng để cho lính cưới làm vợ hầu tăng thêm dân số tại vùng đất mới. Chính sách đó gọi là “thực dân” (thực nghĩa là trồng cây).

Tần Thủy Hoàng (tên thật là Lữ Chính, do Thái Hậu tư thông với Lữ Bất Vi mà sinh ra ông). Sau khi Tần Thủy Hoàng mất, nhà Tần suy yếu, Lưu Bang và Hạng Võ tranh hùng, Triệu Đà bèn tuyên bố độc lập, chiếm cứ một phương, không đóng thuế cho nhà Tần. Lưu Bang thắng Hạng Võ, lên ngôi tức Hán Cao Tổ (nhà Hán), bèn cho Lục Giả qua Nam Việt thuyết phục Triệu Đà về với nhà Hán.

Triệu Đà hỏi sứ nhà Hán rằng: “Trong thiên hạ, ta và Hán Cao Tổ, ai anh hùng hơn ai?”. Lục Giả trả lời: “Ngài cũng là một anh hùng trong thiên hạ, nhưng làm sao so sánh được với Hán Cao Tổ Lưu Bang, ngồi trên mình ngựa mà thu phục được cả giang sơn”. Triệu Đà bèn đáp lại rằng: “Vì ta ở xa chứ nếu ta có mặt tại Trung Quốc trong thời điểm đó, thì chưa biết giữa ta và Hán Cao Tổ Lưu Bang, ai sẽ là người thu phục được cả thiên hạ”.

Triệu Đà quả là một người có chí lớn, tự tay tạo dựng được một giang sơn hùng mạnh. Nhưng sau khi ông mất, con cháu không nối được chí lớn của tổ tiên, nên nước Nam Việt lại bị nhà Hán cai trị và thời kỳ Bắc thuộc kéo dài cả ngàn năm.

MẬU THÌN (248 sau Công Nguyên): Bà Triệu (tức Triệu Thị Trinh) khởi binh đánh nhà Ngô (Ngô Tôn Quyền, thời Tam Quốc).

Bà Triệu quê ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa bây giờ, là người có sức mạnh, chí khí và mưu lược, đã quy tụ được cả ngàn người, chiếm một vùng rừng núi để chống lại quân Tàu. Bà thường nói với mọi người rằng: “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi, để cứu dân ra khỏi nơi đắm chìm, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong cưng để làm tì thiếp người ta”.

Năm Mậu Thìn (248), bà đem quân giúp anh là Triệu Quốc Đạt khởi binh đánh quận Cửu Chân. Quân sĩ tôn bà lên làm người chỉ huy của họ. Khi ra trận, bà cưỡi voi, mặc áo giáp và xưng là “Nụy Kiều Tướng Quân”. Bà chống nhau với tướng nhà Ngô là Lục Dận, Thứ Sử Giao Châu, được 6 tháng thì bị thua, phải đem quân chạy vào xã Bồ Điền (nay là xã Phú Điền, huyện Mỹ Hóa, tỉnh Thanh Hóa) rồi tự tử. Vua Lý Nam Đế phong cho bà là bậc anh hùng và nhân dân đã lập đền thờ bà ở xã Phú Điền, tỉnh Thanh Hóa.

MẬU THÌN (458): Sau khi Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục bèn xưng vương để chống lại quân Tàu.
Truyện xưa chép rằng, Triệu Quang Phục lập chiến khu ở Đầm Dạ Trạch, chống với quân Tàu nhiều năm mà không thắng được. Nhân bên Tàu có loạn Hầu Cảnh, vua nhà Lương phải triệu Trần Bá Tiên về để dẹp loạn, thành Long Biên chỉ còn lại tên Phó Tướng là Dương Sàn. Nhân đó, Triệu Quang Phục mới đem quân về đánh chiếm được thành này.

CANH THÌN (860): Nhà Đường sai Lý Hộ sang làm Đô Hộ Sứ ở Giao Châu.
Nước Nam Chiếu (nay thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) cũng có tên là là Đại Mông, Đại Lệ hay Đại Lý là một dân tộc hùng mạnh thời ấy, đem quân đánh Giao Châu chống lại nhà Đường, hai lần chiếm thành giết hại hơn 15 vạn người Giao Châu (Giao Châu xưa là đất của người Việt, nay là vùng Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc). Đến đời Cao Biền (865) qua cai trị nước ta mới diệt được Nam Chiếu.

GIÁP THÌN (944): Ngô Quyền mất, thọ 47 tuổi. Ngô Quyền đánh được quân Nam Hán, giết thái tử Lưu Hoằng Thao trên sông Bạch Đằng (938), năm sau (939), Ngô Quyền tự xưng làm vua, đóng đô ở Cổ Loa (huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên nay là Vĩnh Phú) được 6 năm thì mất. Con là Ngô Xương Ngập nối ngôi bị cậu ruột là Dương Tam Kha cướp mất quyền. Từ đó trong nước loạn lạc, các anh hùng nổi lên mỗi người chiếm một địa phương, độc lập gọi là loạn 12 sứ quân.

MẬU THÌN (968): Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, sử gọi là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (thuộc tỉnh Ninh Bình nay là Hà Nam Ninh). Lần đầu tiên nước ta được Trung Quốc thừa nhận là một quốc gia độc lập và phong cho Đinh Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ Quận Vương, phải tuân theo lệ triều cống như các nước khác đối với Trung Quốc.

BÍNH THÌN (1076): Vua Lý Nhân Tông (1072-1127) lập trường Quốc Tử Giám dành cho các hoàng tử và con các quan đến học và chọn những người có trình độ văn hóa cao vào dạy.

Cũng trong năm đó, quân nhà Tống vào xâm phạm vùng biên giới nước ta. Vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đi đánh, giết hơn 1000 quân Tống ở sông Như Nguyệt (thuộc địa phận tỉnh Bắc Ninh, tức sông Cầu bây giờ). Tướng của nhà Tống là Quách Quỳ phải rút quân về phía Tây, đóng ở bờ sông Phú Lương (thuộc huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên xưa). Quân Tống quyết phá quân Lý Thường Kiệt nên dồn hết lực lượng và dùng máy bắn đá vào thuyền quân ta làm cho quân ta bị tổn thất rất nhiều. Lý Thường Kiệt bèn đọc lên bốn câu thơ, nói là của thần thánh ban cho, mục đích kêu gọi tinh thần tự chủ, độc lập của quân ta để cương quyết bảo vệ giang sơn của Đại Việt:

Nam quốc sơn hà, Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

(Núi sông nước Nam, vua Nam ở,
Sách trên Trời đã quy định rõ ràng như vậy rồi.
Tại sao bọn giặc chúng bây lại dám đến đây mà xâm phạm?
Bọn chúng mày chắc chắn sẽ thất bại mà thôi)

Quân sĩ Đại Việt nghe bài thơ đó thì lên tinh thần và cương quyết giữ nước, quân nhà Tống không xâm phạm được. Để duy trì hòa bình giữa hai nước, vua nhà Lý sai sứ qua Trung Quốc điều đình xin hoãn binh. Quân Tống thấy không thắng được Đại Việt nên rút lui.

NHÂM THÌN (1171?): Từ 1171-1772, vua Lý Anh Tông đi thăm trong nước, xem hình thế núi sông, đường sá, đời sống của dân và sai quan vẽ bản đồ nước ta, ghi rõ mọi chi tiết dâng lên nhà vua biết.

NHÂM THÌN (1232): Trần Thủ Độ, Thái sư của vua nhà Trần lập mưu đào hầm, làm nhà lá ở trên, mời những con cháu vua nhà Lý đến làm lễ tế Tổ Tiên nhà Lý rồi cho sụp xuống hầm giết hết, không còn một ai sống sót. Trước đó, Trần Thủ Độ cho cháu là Trần Cảnh lấy công chúa nhà Lý là Lý Chiêu Hoàng rồi buộc Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng và Lý Chiêu Hoàng được phong làm Hoàng Hậu. Từ đó ngai vàng nhà Lý đã về tay nhà Trần. Lý Chiêu Hoàng không có con nối dòng nên Trần Thủ Độ bắt Trần Cảnh (Trần Thái Tông) phế bỏ Lý Chiêu Hoàng mà lấy chị dâu là vợ của Trần Liễu (cha của Trần Hưng Đạo) lúc đó đang có thai để có con nối dòng. Trần Liễu bị cướp mất vợ nên đem quân chống lại Trần Thủ Độ… Sau đó, Trần Liễu xin hàng Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Sau khi giết hại con cháu nhà Lý, Trần Thủ Độ bắt người họ Lý đổi ra họ Nguyễn để trong thiên hạ không còn họ Lý nữa.

Cũng trong năm Nhâm Thìn (1232) này, nhà Trần mở khoa thi Thái Học Sinh (Tiến Sĩ) để tuyển chọn nhân tài ra giúp nước.

BÍNH THÌN (1316): Vua Trần Minh Tông (1314-1329) xét lại cấp bậc của quan văn, quan võ trong nước để có quy cũ, ngạch trật chính thức.

BÍNH THÌN (1376): Đời vua Trần Duệ Tông (1374-1377) quân Chiêm Thành vào quấy phá ở Hóa Châu (Thừa Thiên, Huế bây giờ). Vua nước Chiêm là Chế Bồng Nga, một người anh hùng mưu lược, đem 15 mâm vàng qua nhờ quan Trấn Thủ Hóa Châu là Đỗ Tử Bình trình lên vua. Đỗ Tử Bình lấy vàng đó và nói dối với vua rằng Chế Bồng Nga ngạo mạn vô lễ, xin vua cử binh sang đánh nước Chiêm. Các quan can gián, vua không nghe. Vua kéo quân đến tận thành Đồ Bàn, kinh đô của Chiêm Thành, Chế Bồng Nga lập mưu bỏ thành trống và cho người ra hàng nói rằng vua Chiêm sợ quân Đại Việt nên đã bỏ trốn rồi. Trần Duệ Tông khinh địch, kéo quân vào thành bị phục binh của Chế Bồng Nga giết chết. Quân ta tổn thất rất nhiều, Hồ Quý Ly cũng bỏ chạy, các tướng đều chạy thoát thân, không ai lo cứu vua. Sau đó, quân Chế Bồng Nga nhiều lần vào đánh phá kinh đô Thăng Long của ta. Về sau quân ta biết được thuyền của Chế Bồng Nga nên đã tập trung lực lượng, tấn công vào thuyền đó, Chế Bồng Nga bị bắn chết. Từ đó, quân Chiêm Thành không còn quấy phá Kinh đô Thăng Long nữa.

CANH THÌN (1400): Hồ Quý Ly truất phế vua nhà Trần là Trần Thiếu Đế rồi tự xưng làm vua. Nhà Trần làm vua được 175 năm, truyền được mười hai đời, có công chống quân Nguyên xâm lăng, giữ độc lập, lấy đất Chiêm Thành, mở mang bờ cõi, chỉnh đốn việc học hành, tổ chức hành chánh cai trị, lập ra luật pháp, mở mang kinh tế làm cho dân giàu nước mạnh. Các vua cuối đời nhà Trần kém cõi, ham chơi, không giữ được giang sơn của tổ tiên nên bị Hồ Quý Ly cướp ngôi.

GIÁP THÌN (1424): Bình Định Vương Lê Lợi đem quân lấy đất Nghệ An. Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hóa) từ 1418, trải qua mấy năm gian khổ, có khi phải rút quân vào rừng, ẩn náu và phải hòa với giặc để củng cố lực lượng. Năm 1424, Bình Định Vương bàn với các tướng sĩ quyết chiếm cho được đất Nghệ An mới có thể tiến ra Đông Đô (Hà Nội) được. Quân của Lê Lợi đánh thắng được Lương Nhữ Hốt ở đồn Đa Căng, chém tướng nhà Minh là Trần Trung ở núi Bồ Điệp (phủ Quý Châu), Trần Trí, Phương Chính thua chạy, thắng quân Minh ở Ải Khả Lưu… bao vây thành Nghệ An. Dân chúng nghe tin quân Bình Định Vương kéo đến liền đem trâu bò rượu, thức ăn ra đón mừng, khắp nơi dân chúng nổi dậy theo Lê Lợi nên thế quân càng mạnh. Bình Định Vương đánh thắng được quân Trần Trí và Lý An. Lý An bị bao vây trong thành phải đầu hàng còn Trần Lý kéo quân chạy về thành Đông Quan (Hà Nội). Sau 10 năm kháng chiến chống quân Minh, năm 1428, Lê Lợi đại thắng, thu lại giang sơn Đại Việt và lên làm vua, tức Lê Thái Tổ.

MẬU THÌN (1448): Dưới đời vua Lê Nhân Tông (1443-1459), nước Bồn Man xin nội thuộc nước ta. Bồn Man là một phần của nước Lào ngày xưa, phía Đông Nam giáp tỉnh Nghệ An, tỉnh Quảng Bình, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hưng Hóa và Thanh Hóa.

CANH THÌN (1580): Con cháu nhà Lê chiếm được đất từ Thanh Hóa trở vào phía Nam để chống nhau với họ Mạc từ Nam Định trở ra Bắc, đến năm Canh Thìn (1580), nhà Lê mở khoa thi tại Thanh Hóa (Tây Đô) để tuyển dụng nhân tài ra giúp nước. Việc học trong thời kỳ này vẫn còn đơn sơ, chưa có tổ chức quy mô.

GIÁP THÌN (1644): Sau khi Trịnh Tùng đã diệt được nhà Mạc, đưa vua Lê về Thăng Long (Hà Nội) rồi thì đến đời Trịnh Tạc, năm 1664, Giáp Thìn, mới tổ chức thi Hội (lấy bằng Tiến Sĩ). Cứ ba năm một lần có tổ chức thi Hương (Tú Tài, Cử Nhân) và năm sau thi Hội (Phó Bảng, Tiến Sĩ).

Ông Phạm Công Trứ định lại mức đo lường cứ 1.200 hột thóc là một thược, 10 thược là một hạp, 10 hạp là một thăng, 10 thăng là một đấu, 10 đấu là một hộc.

– Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần ở Đàng Trong (Nam Hà) ra lệnh bắt giam và xử tử những nhà truyền giáo ngoại quốc và những người Việt Nam theo đạo, tiếp tay đi truyền đạo Thiên Chúa tại Quảng Nam (Đà Nẵng).

BÍNH THÌN (1676): Vua Lê Hy Tông (1676-1705) ra lệnh cho Lê Hy và Nguyễn Quý Đức tiếp tục chép sử từ vua Huyền Tông (1663-1671) đến Gia Tông (1672-1675).

BÍNH THÌN (1746): Trịnh Doanh ra luật thuế muối, cứ 50 mẫu ruộng muối thì phải nộp 40 hộc muối, mỗi hộc muối giá 180 tiền đồng.

NHÂM THÌN (1752): Tháng 6, quân Xiêm (Thái Lan) vào chiếm Nam Vang, Vua Miên (Kampuchia) kêu cứu, chúa Nguyễn sai Nguyễn Cửu Đàm đem quân đánh Nam Vang. Quân ta tiến vào Nam Vang, quân Xiêm bỏ chạy về Hà Tiên. Lúc bấy giờ Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên thường bị quân Xiêm đánh phá nên phải xin theo chúa Nguyễn để nhờ thế lực của chúa Nguyễn chống lại quân Xiêm.

– Trịnh Cương bắt những người theo đạo Thiên Chúa (Công Giáo) phải khắc vào trán bốn chữ “Học Hoa Lan đạo” tức đạo của người Tây Phương (Hòa Lan).

GIÁP THÌN (1784): Quân Tam Phủ thường gọi là lính Kiêu Binh là những người gốc Thanh Hóa, Nghệ An được tuyển làm lính canh gác cung vua Lê và phủ chúa Trịnh ở Thăng Long (Hà Nội) nổi loạn ủng hộ Trịnh Tông (con trưởng của Trịnh Sâm) chống Trịnh Cán (con thứ của Trịnh Sâm, mẹ là Đặng Thị Huệ). Chúng kéo nhau đi phá nhà quan Tham Tụng Nguyễn Khản (anh Nguyễn Du). Nguyễn Khản phải chạy lên Sơn Tây nương nhờ người em là quan Trấn Thủ Nguyễn Điều, bàn mưu đem Trịnh Tông (Khải) ra ngoài rồi gọi binh các trấn về dẹp loạn Kiêu Binh. Nhưng việc bị lộ nên quân Kiêu Binh bao vây phủ chúa, không cho Trịnh Tông ra ngoài… Dân chúng trong kinh đô vua Lê rất khốn khổ… Nhân cơ hội đó, Nguyễn Hữu Chỉnh trốn vào Quy Nhơn mựơn tay anh em Tây Sơn về trả thù cho chủ là Hoàng Đình Bảo (phe Đặng Thị Huệ bị Kiêu Binh giết).

– Giám Mục Bá Đa Lộc (Pingeau de Béhaine) đem Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh (con chúa Nguyễn Phúc Ánh) qua Pháp cầu viện. Nguyên từ đêm 30 tháng Chạp năm Giáp Ngọ (đầu năm 1775), khi quân Trịnh tiến vào Phú Xuân (Huế) thì Nguyễn Phúc Ánh, lúc đó mới 14 tuổi, chạy theo người chú ruột là chúa Nguyễn Phúc Thuần cùng gia đình vào Gia Định. Sau khi quân Tây Sơn dàn xếp được với quân Trịnh, yên được mặt Bắc (Huế), họ kéo vào đánh chúa Nguyễn ở Gia Định. Chúa Nguyễn bị hại, Nguyễn Phúc Ánh được các tướng nhà Nguyễn tôn lên làm Nhiếp Chính Vương (khi đó mới 17 tuổi) để lãnh đạo quân Nguyễn chống Tây Sơn. Nguyễn Ánh đã nhiều lần bị quân Tây Sơn đánh bại, phải trốn chạy nơi này nơi khác ở ngoài biển vùng Vịnh Thái Lan, gặp được nhà truyền giáo Tây Phương là Bá Đa Lộc và gởi Hoàng Tử Cảnh đi theo Giám Mục Bá Đa Lộc qua Pháp cầu viện…

CANH THÌN (1820): Thái Tử Nguyễn Phúc Đảm lên nối ngôi vua Gia Long lấy niên hiệu là Minh Mạng.
Nguyên Thế Tử Nguyễn Phúc Cảnh, con trưởng vua Gia Long chết sớm vì bệnh đậu mùa. Con trai của Thế tử còn nhỏ nên vua Gia Long chọn con thứ là Nguyễn Phúc Đảm lên nối ngôi. Các đại thần như Lê Văn Duyệt, Lê Chất khuyên vua nên chọn cháu đích tôn nối ngôi để giữ chính thống nhưng vua không nghe và đã chọn con thứ là Minh Mạng nối ngôi, lúc đó đã ngoài 30 tuổi. Sự việc này về sau đã gây nên chuyện tranh chấp giữa con cháu của Nguyễn Phúc Cảnh và vua Minh Mạng khiến cho con cháu Hoàng Tử Cảnh về sau bị vua Minh Mạng giết hại.

BÍNH THÌN (1856): Dưới thời vua Tự Đức (1848-1883), tháng 8, tàu thủy của Pháp đến gây hấn, bắn phá cửa Đà Nẵng rồi bỏ đi.

MẬU THÌN (1868): Sau khi mất ba tỉnh Miền Đông Nam phần là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường (hòa ước 1862), đến năm 1868, Việt Nam lại ký thêm hòa ước nhường cho Pháp ba tỉnh Miền Tây… Như vậy là toàn Miền Nam đã thuộc về người Pháp. Các cuộc kháng chiến do các nhà trí thức, nho sĩ và quan của triều đình ly khai chống lại Pháp, không chấp nhận hòa ước, đã kéo dài nhiều năm.

– Ngô Côn là một đảng cướp từ bên Tàu qua, đánh chiếm thành Cao Bằng, triều đình sai Phạm Chi Hương đi đánh dẹp. Phạm Chi Hương viết thư cho quan nhà Thanh xin quân Tàu giúp. Nhà Thanh sai Phó Tướng Tạ Kế Quý đem quân sang phối hợp với quân của Ông Ích Khiêm, Nguyễn Viết Thành đánh phá quân Ngô Côn ở Thất Khê. Tháng 7 năm Mậu Thìn (1868) quân ta thua, Tham Tán Nguyễn Lệ, Phó Đề Đốc Nguyễn Viết Thành tử trận, Tổng Đốc Phạm Chi Hương bị bắt… Vua Tự Đức sai Võ Trọng Bình làm Hà Ninh Tổng Đốc kiêm Quân Thứ Khâm Sai Đại Thần 3 tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn hợp với Đề Đốc Quảng Tây là Phùng Tử Tài đánh Ngô Côn, lấy lại được thành Cao Bằng (1869) đến năm 1870 Ngô Côn bị Ông Ích Khiêm bắn chết. Đàn em của Ngô Côn là Hoàng Sùng Anh (cờ vàng), Lưu Vĩnh Phúc (cờ đen) và Bàn Văn Nhị (cờ trắng), Lương Văn Lợi (cờ trắng) vẫn còn quấy nhiễu. Về sau bọn nầy được triều đình chiêu dụ về hợp tác để đánh Pháp.

BÍNH THÌN (1916): Năm của thiên tai, bão lụt (lụt năm Thìn), mất mùa, dân mất việc, vua mất ngôi… Nửa đêm 3 tháng 5-1916, vua Duy Tân trốn ra khỏi kinh thành Huế cùng với hai người hộ vệ là Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu để đi gặp hai nhà cách mạng Thái Phiên và Trần Cao Vân… khởi nghĩa chống Pháp. Kế hoạch khởi nghĩa bị bại lộ, vua đi thuyền về Hà Trung, tạm trú tại nhà ông Mai Trí, rồi theo hướng núi vào trốn trong một ngôi chùa phía sau Ngự Bình, gần Nam Giao. Sáng 6-5-1916, vua bị bắt về giam tại Bộ Hình (Tam Tòa) sau đưa vào giam tại Đồn Mang Cá trong thành Huế. Ngày 3-11-1916 thì vua bị đày sang đảo Réunion.
Các nhà cách mạng Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị xử tử, chém đầu. Hàng trăm, hàng ngàn người theo đảng Cách Mạng ở các tỉnh bị bắt, bị tù đày, bị chết…

Ngày 30-1-1916, trước Tết Bính Thìn chừng ba hôm, vua cưới bà Mai Thị Vàng (con quan phụ đạo Mai Khắc Đôn, thầy dạy của vua). Bà sống với vua được hơn ba tháng thì xảy ra biến cố vua bị đày. Bà theo vua qua đảo Réunion được hơn hai năm. Vì không hợp khí hậu, bà bị đau ốm hoài nên vua cho phép bà trở về quê ở làng Kim Long (Huế).

Thời gian ở trong cung, khoảng tháng 4-1916, thỉnh thoảng bà thấy một ông già vào câu cá ở Hậu Hồ sau Điện Kiến Trung. Bà có hỏi vua rằng: “Đây là khu vực cấm, tại sao để cho người ta vào câu như thế?”. Vua trả lời: “Người ta nghèo, vào câu kiếm ăn cũng không có hại gì”. Không ngờ người đó chính là một trong hai nhà cách mạng Trần Cao Vân và Thái Phiên, đã ước hẹn gặp vua ở nơi đây.
Sau gần 30 năm bị lưu đày biệt xứ, ngày 26-12-1945, vua bị tử nạn máy bay ở Bangui, trên đường từ Pháp trở về Phi Châu. Ngài có 5 người con, bốn người với Fernande Antier (đảo Réunion) và một bé gái với Maillot Marie Ernestine.

CANH THÌN (1940): Thế giới đại chiến lần thứ II từ 1939-1945, đang ở trong giai đoạn khởi đầu. Lợi dụng thời cơ lúc thế lực của Pháp đang suy yếu, quân Đức chiếm Paris, quân Nhật bành trướng thế lực ở Đông Á và Việt Nam. Các phong trào chống Pháp, giành độc lập hoạt động mạnh dựa vào thế lực của Nhật hoặc theo phe Đồng Minh (Mỹ và Tưởng Giới Thạch) chống Nhật.

NHÂM THÌN (1952): Chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh tại Đông Dương đã đến hồi quyết liệt. Sau khi Mao Trạch Đông đánh bại Tưởng Giới Thạch và chiếm trọn vẹn Trung Quốc thì các chiến khu của Việt Minh ở vùng biên giới Việt-Trung được tiếp tế súng ống, đạn dược của Trung Cộng và Liên Xô. Việt Minh đã mở những mặt trận lớn ở các tỉnh biên giới và dẫn đến chiến thắng Điện Biên Phủ 7-5-1954 quyết định số phận Việt Nam với hiệp định Genève 20-7-1954, chia đôi lãnh thổ, từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc thuộc về Hồ Chí Minh (Việt Minh-Cộng Sản), từ vĩ tuyến 17 trở vô Nam thuộc Bảo Đại và Ngô Đình Diệm sau này là Việt Nam Cộng Hòa.

GIÁP THÌN (1964): Năm có nhiều biến cố xảy đến cho Miền Nam Việt Nam (VNCH). Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị thảm sát do Dương Văn Minh và phe tướng lãnh tổ chức đảo chánh vào ngày 1-11-1963, ngày 30-1-1964, Nguyễn Khánh lật đổ Dương Văn Minh với sự tham gia của một số sĩ quan và tổ chức chính trị tại Sài Gòn. Tháng 2-1964, Nguyễn Khánh trình diện Nội Các với sự tham gia của hai chính đảng lớn là Đại Việt (Nguyễn Tôn Hoàn) và Việt Nam Quốc Dân Đảng (Vũ Hồng Khanh). Ngoài ra còn có sự hợp tác của các nhân sĩ tôn giáo v.v… Nhưng sau đó, Nguyễn Khánh chủ trương độc tài, quân phiệt làm ra Hiến Chương Vũng Tàu (tháng 8-64), đưa Nguyễn Khánh lên làm Quốc Trưởng kiêm Thủ Tướng, kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội, không tổ chức bầu cử Quốc Hội, không cai trị bằng Hiến Pháp… Sinh viên học sinh và Phật tử biểu tình ngay tại Sài Gòn, gây xáo trộn toàn Miền Trung… đòi xử tử Ngô Đình Cẩn, Phan Quang Đông… Dân Công Giáo di cư (1954) ở hai làng Thanh Bồ, Đức Lợi Đà Nẵng bị phe tranh đấu quá khích tấn công. Dân di cư ở Biên Hòa, Sài Gòn do LM Hoàng Quỳnh lãnh đạo biểu tình phản đối vụ án Đặng Sĩ… Tình hình an ninh nông thôn rất trầm trọng, nhiều trận đánh lớn ở Bình Giã (Bà Rịa-Vũng Tàu), Đỗ Xá, Dakto, nhất là Vùng I Chiến Thuật từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi… Quân Mỹ để bộ lên Đà Nẵng, Chu Lai… Nhiều Bộ Trưởng từ chức, mấy lần cải tổ Chính Phủ trong một năm…

BÍNH THÌN (1976): Nhân dân Việt Nam từ Nam chí Bắc dưới quyền cai trị của Đảng Cộng Sản độc tài. Hàng triệu người thuộc quân đội và chính quyền Miền Nam (VNCH) bị tập trung trong các nhà tù cải tạo, tài sản bị tịch thu, vợ con bị đày đi “vùng kinh tế mới”. Cải tạo công thương nghiệp, hàng vạn người bị tịch thu tài sản bị tù tội… Các cuộc vượt biên tìm tự do, hàng triệu người bỏ nước ra đi, đa số chết trên sông, trên biển, trong rừng, làm mồi cho cá mập, cho thú dữ, đàn bà con gái bị hải tặc hãm hiếp, bị công an bắt, bị lấy hết tài sản còn bị tù, bị cưỡng ép phải lấy những tên có quyền thế, các nhà tu hành bị bắt, bị chết trong nhà tù, bị đày đi những nơi khí hậu khắc nghiệt. Dân cả nước đều đói khổ chỉ trừ bọn công an, cán bộ đảng viên có quyền thế tha hồ vơ vét bóc lột…

MẬU THÌN (1988): Do sự can thiệp của Mỹ và Liên Hiệp Quốc, một số tướng lãnh và sĩ quan cao cấp, viên chức quan trọng thuộc các cơ quan trung ương của VNCH bị “tù cải tạo” đã được tha về vào dịp Tết Mậu Thìn (1988).

CANH THÌN (2000): năm cuối cùng của thế kỷ 20, năm chờ đợi những biến cố xảy đến cho nhân loại mà người ta tin rằng sẽ “lành ít, dữ nhiều”.

Nhiều người cho rằng năm 2000 là năm tận thế. Nhưng năm Canh Thìn 2000 đã qua với nhiều biến cố nhưng không phải là năm tận thế như nhiều người lo sợ.

NHÂM THÌN (2012): Chuẩn bị vào năm Thìn 2012, người ta đã thấy quá nhiều biến cố xảy ra rồi: thiên tai, bão lụt, động đất, chiến tranh, vua mất ngôi, quan mất chức, dân mất việc… Khắp nơi, người Việt Nam báo động “Trung Cộng đang xâm lăng Việt Nam dưới nhiều hình thức và sẽ xâm lăng bằng quân sự…” Vậy số phận Việt Nam và thế giới trong tương lai sẽ như thế nào? Chờ xem.

http://www.thegioimoionline.com/tm.php?recordID=3128

www.lyhuong.net/

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s