Đâu là nguyên nhân của sự thờ ơ lạnh nhạt (XHCN gọi là “vô cảm”) của người Việt Nam?

Trước hiện tượng đạo đức tại VN ngày càng suy đồi, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng tại Việt Nam với những video clip học trò nữ đánh nhau, lột quần lột áo giữa thanh thiên bạch nhật. Những án mạng mà thủ phạm chỉ mới 14, 15 tuổi, còn ngồi trên ghế nhà trường, chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt. Thầy giáo lạm dụng tình dục những bé gái lớp 4, lớp 5. Những vụ thầy gạ đổi tình lấy điểm hay như vụ “Hiệu trưởng ma cô” Sầm Đức Xương dắt gái là các em học sinh 15, 16 tuổi cho Chủ tich Tỉnh Hà Giang và dàn quan chức cấp Tỉnh ngày nào. Và  phản ứng của xã hội trước những việc này, hầu như là bàng quang! Thậm chí có những người chạy xe ngang qua những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, còn buông ra câu chửi”lũ điên”!!!

Đã có nhiều Tác giả, Học giả viết nhiều về sự vô cảm của người Việt Nam.Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Hưng Quốc thì lý giải bằng Hiệu ứng bàng quang (Bystander effect) hay hội chứng Genovese syndrom.

Và ông đã giải thích Hiệu ứng Bàng quang này bằng sự Vô tri đa nguyên (pluralistic ignorance) cho rằng con người thường có xu hướng quan sát xem phản ứng của những người xung quanh, trước một sự cố nào đó. Nếu mọi người không làm gì hết thì lựa chon tối ưu của anh ta là cũng không làm gì hết.

Hoặc bằng sự khuyếch tán trách nhiệm (diffusion of responsibility) cho rằng con người thường có tâm lý cho rằng trách nhiệm thuộc về ai đó chứ không phải mình.

Giới lãnh đạo độc tài toàn trị cs VN càng cũng cố tâm lý bàng quang chủ nghĩa ấy bằng cách tước bỏ trách nhiệm của mọi người dân, giành hết trách nhiệm về phần mình. Nhưng ở phần họ, dưới danh nghĩa lãnh đạo tập thể, hầu như không có ai có trách nhiệm gì rõ ràng cả (Hiệu ứng bàng quang).

Người dân bị tước trách nhiệm và những ai muốn biểu lộ trách nhiệm ấy thì bị chụp mũ, sĩ nhục, bắt bớ, giam cầm.Trách nhiệm đối với đất nước trở thành một cái tội (sự thờ ơ lạnh nhạt  [“vô cảm”] đến từ đâu).

 
Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc đã lý giải một cách chính xác sự vô cảm hiện nay của đa số người dân Việt Nam.

 
Nhưng riêng tôi vẫn thấy thiêu thiếu một cái gì đó!

 
Theo tôi cái thiêu thiếu đó chính là quan niệm về Quê Hương của cả hai phía nhà cầm quyền (Chính quyền?) toàn trị cs VN và người dân Việt Nam hiện nay.

-Về phía  nhà cầm quyền (chính quyền?) toàn trị cs VN:
Sau chiến thắng 30/04/1975 họ, những người cs, những người chiến thắng đã coi Đất nước này như một ” chiến lợi phẩm” để mà chia chác.

Đã có một thời lưu truyền câu hát chế trong xã hội miền Nam: “Tiến về Sài Gòn, ta chiếm nhà mặt tiền” hoặc câu vè “Vào vơ vét về”. Mức độ càng ngày càng dữ dội hơn với việc khai thác tài nguyên như Bauxit mà số tiền bỏ ra để làm đường, nâng cấp cầu để vận chuyển quặng sẽ cho một kết quả âm trơ trẻn. Cho thuê rừng đầu nguồn tại những nơi quan yếu về quân sự, bỏ ngoài tai mọi lời can gián của những nhân sĩ nặng lòng với tương lai đất nước. Những 30-40% hoa hồng trong các dự án ODA để làm cầu đườngv.v…

 

Do đó không lấy làm lạ khi chỉ một đoạn ngắn con đường cao tốc đi qua tỉnh Long An đã có hơn 500 ổ voi, chưa kể ổ trâu, ổ gà. Những con đường vá víu chằng chịt mặc dù chưa được nghiệm thu, những cột bê tông cốt tre…

 
Vì coi đất nước này là một chiến lợi phẩm để bán xới, chia chác nên độc tài toàn trị cs tìm mọi cách loại bỏ những can thiệp hoặc ý kiến của dân chúng để độc quyền chia chác cho bè phái, đoạt được ưu thế chính trị theo nhiệm kỳ. Và sau đó là rũ bỏ sạch mọi trách niệm khi hết nhiệm kỳ.

 
Đã có biết bao quan chức sau khi hạ cánh đã có sẵn cơ ngơi tại các nước Mỹ, Úc, Canada, Singapore… hoặc một tài khoản bí mật nào đó ở nước ngoài. Con cái họ đã du học, thậm chí đã có thẻ thường trú nhân tại các nước Âu Mỹ. Đối với các quan chức, một khi về hưu hoặc phe cánh mất ảnh hưởng thì coi như chấm hết. Do đó phải lo dọn đường thủ trước.

Đất nước này đối với họ không phải là quê hương, chỉ là một chiến lợi phẩm cưỡng đoạt được, chỉ là chùm khế ngọt cho họ tha hồ gặt hái mỗi ngày, một khi còn nắm được trong tay quyền lực.

 
-Về phía người dân:

 
Tôi nhớ đã đọc được một định nghĩa về Quê Hương của một tác giả mà lâu quá đã quyên mất tên. Nếu Tác giả có tình cờ đọc được, xin thứ lỗi vì đã không trích dẫn.

“Quê Hương, là nơi có thể cho ta một cơ hội sống tử tế bằng một nghề lương thiện và ta có nhiều kỷ niệm gắn bó với nơi ấy”.

 
Câu định nghĩa trên thật đơn sơ và có phần cục mịch, không thi vị như “quê hương là chùm khế ngọt cho con trèo hái mỗi ngày…” của Tác giả Đỗ Trung Quân, không cường điệu “có hoa, có bướm… trong từng  tấc đất  có một phần da thịt của em tôi…” như nhà thơ Giang Nam.

Nhưng thật vậy có cơ hội được sống tử tế bằng một nghề lương thiện, thì con người mới gắn bó với nơi ấy, họ mới xây dựng nên những chuẩn mực đạo đức, những quy tắc ứng xử trong cộng đồng để giữ mối quan hệ hàng xóm, láng giềng, làng xã. Giáo dục con cháu và những thế hệ kế tiếp giữ gìn và phát huy truyền thống ấy. Có được như vậy thì dần dà mới có khái niệm về quê hương trong tâm niệm của những thế hệ nối tiếp.

Nhưng ngày nay để sống tử tế, lương thiện thật còn khó hơn làm Tiến sĩ (Trương Duy Nhất).
Muốn được việc khi tiếp xúc với các quan”hành là chính” thì phải ói tiền ra, đi đường gặp cảnh sát bị tuýt còi, không lỗi này thì cũng lỗi kia, không mãi lộ không xong. 20/11 không có quà cho thầy cô thì con bị đì, vào bệnh viện cũng thủ tục “đầu tiên”.

Hoàn cảnh xã hội hiện tại tước đoạt của người dân cơ hội được làm người lương thiện, được sống tử tế, buộc họ phải mua gian bán dối, thịt bẩn, lòng thối, rau củ nhiễm thuốc trừ sâu, chở hàng quá tải trọng, làm ra những sản phẩm kém chất lượng… để có tiền chung chi.
Ngoài dòng người miền Nam đi tản vào những ngày cuối của tháng 04/1975 và phong trào vượt biên, cũng chỉ vì bị tước đoạt quyền được sống lương tiện, tử tế vì rào cản lý lịch của những người được gọi là có dính líu tới ngụy quân, ngụy quyền và sau này là những người đi diện HO, con lai. Ở miền Bắc thì cũng vượt biên, lao động hợp tác và sau khi Đông Âu tan rã thì người lao động cũng bằng mọi cách để ở lại.

Không lấy làm lạ, khi hiện nay dòng người Việt Nam, bỏ nước ra đi như có một đợt di tản mới, ngày càng nhiều dưới nhiều hình thức. Kết hôn giả, cho con đi du học, đầu tư ra nước ngoài nếu có điều kiện kinh tế.

 
Con gái Việt Nam, cởi truồng cho  đàn ông Đài Loan, Hàn quốc lựa chọn như lái heo lựa nái, dù đã được biết có nhiều trường hợp phải làm nô lệ tình dục cho cả nhà chú rể hay bị bạo hành đến mức phải nhẩy lầu tự tử tại Hàn quốc. Cầm cố nhà cửa ruộng vườn để đóng thế chân đi xuất khẩu lao động, sau đó tìm cách trốn ở lại. Bằng mọi cách người dân đang tìm cách bỏ xứ mà đi.

 
Ngay cả trong thời kỳ chiến tranh, hiếm có du học sinh cả hai miền Nam, Bắc sau khi tốt nghiệp ở lại. Đa số đều trở về phục vụ lý tưởng của mình. Ngày nay hiếm có du học sinh nào về nước sau khi tốt nghiệp. Sau gần bốn thập niên (1975-2011) hiện có hơn bốn triệu người Việt Nam sống trên 101 quốc gia trên toàn thế giới.

Vì với họ Việt Nam không còn là nơi có thể cho họ một cuộc sống tử tế, bằng một nghề lương thiện, không còn được chọ coi là quê hương nữa. Họ ra đi để tìm một quê hương mới. Chẳng còn gì để gắn bó.

 
Với họ, Việt Nam không phải là chùm khế ngọt mà là mảnh đất của lũ cộng sản quỷ dữ.
Và vì thế họ bàng quang, vô cảm với mọi việc.

 
Những người không có điều kiện ra đi,  bị tước đoạt đi cơ hội làm người tử tế, nên họ cũng bàng quang,  thờ ơ lạnh nhạt (“vô cảm”) với những điều không lấy gì làm tử tế.
Một suy nghĩ mọn.
Một ngày ấm Houston, Texas, America

 

14/12/2011
Oanh Yến Thị Phạm

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s