Thiếu Uý Nguyễn Thanh Lương

 cầu Đông Hà

Lời nói đầu:

Câu chuyện về Thiếu Uý Nguyễn Lương được trích dịch từ quyển sách Ride the Thunder của Richard Botkin. Quyển sách viết về cuộc đời các nhân vật chính: Trung Tá Gerald Turley, Trung Tá Lê Bá Bình, Đại Uý John Ripley, Đại Uý George Philip, Thiếu Uý Nguyễn Lương, các trận đánh nhỏ từ đầu thập niên 60, và sau cùng viết về trận chiến Quảng Trị năm 1972, trong đó có trận đánh cầu Đông Hà với Tiểu Đoàn 3 Thủy Quân Lục  Chiến. Tác giả Richard Botkin đã cố gắng viết thêm về các người lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam để cho các độc giả Hoa Kỳ biết thêm về sự chiến đấu và đời sống thường ngày của những người lính này, trong đó có người trung đội trưởng Nguyễn Lương của Tiểu Đoàn 3 “Sói Biển”. Trong câu chuyện ngắn này, chúng ta sẽ thấy được tấm lòng và tình huynh đệ chi binh của các người lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam.

Sinh Viên Sĩ Quan Nguyễn Lương

Vào mùa Thu năm 1967, sinh viên sĩ quan Nguyễn Lương từ giã đời sống dân sự, bước chân vào quân ngũ, cố gắng học tập để trở thành một sĩ quan hiện dịch, Lương thuộc Khoá 24 Võ Bị Quốc Gia. Chỉ được biết bằng tên khoá, cái nhóm đông với hơn ba trăm chàng trai trẻ yêu nước, nếu theo đúng chương trình, sẽ ra trường với cấp bậc thiếu uý vào tháng 12 năm 1971.

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam do người Pháp thành lập năm 1948, với cái tên là Trường Võ Bị Liên Quân, tọa lạc tại Huế. Trường mang kiểu mẫu giống trường Võ Bị St. Cyr của Pháp, tương đương như trường Võ Bị West Point của Hoa Kỳ, với trách nhiệm giảng dạy và huấn luyện các sinh viên sĩ quan trở thành các sĩ quan nhà nghề. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Khoá 1, là một trong số các sĩ quan nổi tiếng tốt nghiệp từ trường này.

Trường mới, nằm trên một ngọn núi nắng ấm ở thành phố du lịch Đà Lạt, cách đông bắc Sài Gòn khoảng một trăm bốn mươi dặm. Chương trình giáo dục của trường, với phần lớn các khoá, là chương trình hai năm. Vào cuối thập niên năm mươi, được sự giúp sức của người Pháp và người Hoa Kỳ, chương trình kéo dài thành các khoá ba và bốn năm. Đến năm 1960, vì tình hình thế giới cần phải chiến đấu, chống lại hiểm họa cộng sản xâm lăng, đang leo thang. Và, chiến tranh thì luôn cần có các sĩ quan trẻ, nên chương trình học lại trở về với chương trình hai năm.

Người Hoa Kỳ cũng càng ngày càng dính dáng đến Việt Nam nhiều hơn. Vào giữa thập niên sáu mươi, Việt Nam được khuyến khích nên giảng dạy theo mẫu chương trình bốn năm của trường Võ Bị West Point. Khoá 22 được chia thành hai nhóm, Khoá 22A sẽ tốt nghiệp sau hai năm, và Khoá 22B sẽ là khoá bốn năm. Khoá 23 và Khoá 24 sẽ theo học chương trình bốn năm, chương trình dự định là sẽ cho phương pháp này (các khoá học bốn năm), được tiếp tục vô hạn định.

Sự tranh đua để được chọn vào trường Võ Bị Quốc Gia, giống như người bạn đối tác Hoa Kỳ, rất là khó khăn. Bắt đầu từ nhiều ngàn tờ đơn xin gia nhập để được chiến đấu cho đất nước. Khoá 24, sau cùng chỉ chọn trên ba trăm ứng viên với trình độ học vấn cao nhất và thể lực khoẻ nhất. Nước Việt Nam vẫn chưa đủ sức để thiết lập các trường Võ Bị cho từng binh chủng khác nhau. Không Quân, Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến sẽ được chia cho một vài sĩ quan trẻ từ các khoá, với phần lớn sẽ về với Lục Quân (Bộ Binh), đây là binh chủng được phục vụ nhiều nhất. Theo truyền thống của trường, với tinh thần luôn sẵn sàng xông pha nơi chiến trường, các sĩ quan ra trường với thứ hạng cao nhất sẽ luôn xin được phục vụ cho hai binh chủng Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến.

Sinh năm 1947 ở Biên Hòa, cách đông bắc Sài Gòn chỉ hai mươi dặm, Nguyễn Lương là người anh cả trong gia đình có sáu người con, năm trai và một gái. Trước khi có cuộc chia đôi đất nước vào năm 1954, cha của anh đã từng là một sĩ quan ngành tình báo trong chính quyền Pháp. Khi nước Việt Nam Cộng Hòa được thành lập, cha anh được chuyển sang Sở Bưu Điện, làm việc trong một bộ phận chuyên về việc kiểm tra mật các thư tín giữa cộng sản từ miền Bắc và các điệp viên của họ trong miền Nam. Thông thường, các bức thư này được gởi từ các nước bên châu Âu hay các địa chỉ giả tạo, với hy vọng qua mặt được những con mắt nhà nghề của những người, như cha của Lương.

Khi vừa mới lớn, Lương thích chơi đàn guitar, chuyên về nhạc cổ điển. Giống như những thanh niên trẻ khắp mọi nơi, phim ảnh quyến rũ, kích thích trí tưởng tượng của anh. Lương thích các phim phiêu lưu mạo hiểm, phim cao bồi viễn tây, phim khoa học giả tưởng. Các chuyện phim như Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển là một trong những câu chuyện mà anh luôn trìu mến nhớ lại.

Là một hướng đạo sinh, Lương và các bạn hướng đạo luôn đi cấm trại những khi họ có thể đi được, họ đã từng đến những khu vực hẻo lánh nằm gần Nha Trang, Thủ Đức và Bình Dương. Và có lần, đã cấm trại ngay trước chùa Giác Lâm, tại Sài Gòn. Các hướng đạo sinh trẻ luôn được giao nhiệm vụ giúp đỡ những việc mà đất nước non trẻ luôn đòi hỏi. Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy hướng đạo sinh giúp việc chữa cháy, xây dựng các khu vực mới, phụ giúp sửa chữa các con đường hay cầu cống bị hư hại do chiến tranh gây ra, tất cả các việc nào cần đến bàn tay giúp sức của họ (hướng đạo sinh) trong những thời điểm cần thiết.

Trước khi vào trường Võ Bị Quốc Gia, Lương theo học chương trình dự bị đại học, tương đương với trường Đại Học Kỹ Thuật hai năm của Hoa Kỳ. Tại Việt Nam, học tập trong các học viện này, với các định hướng về kỹ thuật sẽ làm cho các học viên chuyên về toán học và khoa học thực dụng nhiều hơn. Việc này, vô hình chung, là một chuẩn bị vô cùng quan trọng cho Lương, với chương trình giáo dục của trường Võ Bị, như trường West Point, luôn đầy những môn học về kỹ thuật, đào tạo kỹ sư.

Đến năm 1967, tại Hoa Kỳ, ở trong quân ngũ, hay có vẻ giống như bạn đang ở trong trong quân đội nói chung, sẽ không giúp ích thêm cho việc quen bạn gái, tuy với đông đảo các cô gái còn độc thân. Tại Việt Nam, quốc gia đang phải chiến đấu cho sự sống còn, các sinh viên sĩ quan được coi như những người sẽ là các vị cứu tinh cho đất nước bởi các cô gái Việt hơn là tại Annapolis (trường Hải Quân), West Point (trường Lục Quân), hay tại trường Không Quân Hoa Kỳ. Vì vậy, các sinh viên sĩ quan là các chàng trai mà các cô gái Việt luôn mong đợi và mến phục.

Khi không bận rộn trong việc học vấn, hay trong những buổi thực tập về quân sự, Lương giữ một mối tình bền vững với một cô gái trẻ cùng quê, ở Biên Hòa. Ngay từ lúc mới quen nhau, họ đã có tình cảm sâu đậm, và cô bạn gái này luôn vui vẻ tham dự những buổi lễ họp mặt, theo đúng thủ tục thăm viếng chính thức trong cái thời khoá biểu của Lương.

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Lễ Tốt Nghiệp
Thành phố Đà Lạt, Việt Nam Cộng Hòa
27 tháng 12 năm 1971

Thật đúng là một ngày đẹp trời trên thành phố Đà Lạt. Trời nắng ấm, thân nhân, bạn bè và quan khách cùng nhau đến tham dự và ăn mừng lễ mãn khoá của các chàng trai tân thiếu uý, sẽ rời trường Võ Bị Đà Lạt để lên đường phụng sự quốc gia. Thật là một điều kỳ diệu khi nước Việt Nam Cộng Hòa và Khoá 24 của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam vẫn tiếp tục đứng vững và thêm những dấu hiệu lạc quan và thắng lợi là những điều mà mọi người lấy làm hãnh diện.

Một năm cũng sắp hết, tương lai tuy không có gì chắc chắn cho lắm, nhưng cũng cho thấy một vài điều sáng sủa. Chính quyền Sài Gòn cũng kiểm soát được nhiều vùng thôn quê hơn so với gần mười tám năm trước, lúc quốc gia mới được thành lập (Việt Nam Cộng Hòa). Những cuộc cải tổ đúng đắn đang đi vào giai đoạn hoàn tất, và cho dầu, những cuộc cải tổ này, sẽ không đủ để làm dịu bớt những sự chỉ trích về chính quyền, từ trong nước hay từ giới truyền thông Tây phương và các trường đại học Hoa Kỳ, nhưng những sự việc này, lại gây nhiều sự khốn đốn cho bọn cộng sản. Đám Việt cộng, vi phạm luật hưu chiến, gần như đã bị tiêu diệt trong thời gian Tết 1968, hiện vẫn chưa hồi phục hay gầy dựng tổ chức lại được. Việc rút quân của các đơn vị tác chiến Hoa Kỳ được quân bình bằng lời hứa của đồng minh, sẽ tiếp tục yểm trợ về không quân chiến lược và cấp thêm những tài khoá lớn.

Sắp sửa được làm thiếu uý, Nguyễn Lương ra trường với thứ hạng khá cao trong khoá, đủ để được vinh dự là một trong mười bốn sĩ quan được vinh hạnh bận bộ đồ rằn và được chọn về binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, binh chủng mà họ đã tình nguyện ghi danh để phục vụ. Các công dân Hoa Kỳ sẽ bị bất ngờ khi biết được người Việt Nam có binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, họ sẽ bất ngờ gấp bội khi hiểu rằng chỉ những người đứng đầu lớp, những người xuất sắc trong nhóm những người xuất sắc, mới được chọn làm những sĩ quan trẻ cho binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và những binh chủng thiện chiến khác như Nhảy Dù, Biệt Động Quân. Sự ganh đua để dành chỗ cho được những đơn vị nầy rất là khốc liệt.

Cuộc diễn hành cho buổi lễ mãn khoá tương tự như trường Võ Bị West Point nhưng nhỏ hơn về kích thước. Tuy nhỏ hơn kiểu mẫu của người Hoa Kỳ, buổi lễ tại Đà Lạt đã không bị sút giảm về sự trang nghiêm, lòng hãnh diện, hay hoài bão. Khi bắt đầu nhập Khoá 24 vào cuối năm 1967, có tổng cộng ba trăm mười một khoá sinh. Hai trăm bốn mươi lăm người đã bền bỉ theo đuổi và trong chốc nữa đây, sẽ lên bệ đài để nhận lãnh văn bằng tốt nghiệp cử nhân và trở thành các sĩ quan thiếu uý hiện dịch, trước mặt đám đông hâm mộ gồm có bạn bè và thân quyến. Sự lo lắng và sự hứa hẹn luôn có trong những lần mãn khoá là tâm trạng chung của các chàng trai trẻ, họ sẽ luôn giữ tình bạn đồng khoá khi biết tất cả bọn họ, mỗi một người trong bọn họ, sẽ là những người dẫn dắt các người lính đi vào trận chiến chống lại kẻ thù cộng sản.

Ngày 27 tháng 12 năm 1971 (Lời người dịch: Theo một cựu sĩ quan Đà Lạt Khoá 24, ngày mãn khoá là ngày 17 tháng 12 năm 1971) là ngày cuối cùng mà Khoá 24 còn được đứng chung với nhau như một khối đồng nhất. Những buổi họp khoá trong tương lai mà họ đang suy nghĩ, nếu có thể, sẽ xảy ra, hoặc trong năm, hay mười, hay ba mươi năm. Những người bạn đồng khoá, có lẽ sẽ có nhiều người trong bọn họ, những người sẽ mau chóng hy sinh cho tổ quốc trong cuộc chiến đấu cho quê hương luôn được sinh tồn, sẽ phải vắng mặt, trước khi họ có cơ hội gặp lại nhau trong các lần họp khoá.

Nhiệm Vụ với Tiểu Đoàn 3

Sau lễ mãn khoá, Thiếu Uý Lương được cấp mười lăm ngày phép để về thăm gia đình và cô bạn gái quen biết đã lâu, và cũng để cho ông chuẩn bị tinh thần, từ một sinh viên sĩ quan vừa mới ra trường, trở thành người lính Thủy Quân Lục Chiến.

Cho dù Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam vẫn đang tiếp tục bành trướng, vào tháng Giêng năm 1972, binh chủng vẫn còn nhỏ bé, đủ để cho mọi người coi nhau, biết nhau như là một gia đình.

Trong suốt cuộc chiến, binh chủng Thủy Quân Lục Chiến luôn sắp đặt để cho các sĩ quan và binh lính có được những tiêu chuẩn cao và binh chủng này không thèm để tâm đến những âm mưu chính trị, luôn là bệnh dịch trong một nhóm sĩ quan cao cấp và các đơn vị của riêng họ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, luôn giống như các quân đội trong các nước nhược tiểu. Trung Tướng Lê Nguyên Khang, tư lệnh binh chủng Thủy Quân Lục Chiến là một vị tướng thâm niên, ông vẫn còn phục vụ trong binh chủng vào những tháng đầu của năm 1972.

Mười bốn tân thiếu uý tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia vào tháng 12 sẽ được phân chia cho nhiều tiểu đoàn, với chín tiểu đoàn tác chiến, một vài tiểu đoàn sẽ nhận được hai thiếu uý. Tiểu Đoàn 3 luôn là tiểu đoàn đụng nhiều trận đánh lớn, tiểu đoàn luôn cần thêm các sĩ quan mới ra trường. Thiếu Tá Lê Bá Bình (tiểu đoàn trưởng) lần này, sẽ được chia cho hai sĩ quan trung đội trưởng.

Thiếu Úy Lương được chỉ định về Tiểu Đoàn 3 là do công việc của một người mà về sau, sẽ là vị tướng tư lệnh kế tiếp của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, một nhu cầu cần thiết trong binh chủng, người đó là Đại Tá Bùi Thế Lân, người sẽ lên nắm chức tư lệnh sư đoàn trong một thời gian ngắn. Đại Tá Bùi Thế Lân, một người có máu tiếu lâm, là người chịu trách nhiệm lo việc điều hành các sĩ quan trong binh chủng. Cùng về Tiểu Đoàn 3 với Thiếu Uý Lương là Thiếu Uý Nhái, người bạn thân và là bạn cùng khoá của Thiếu Uý Lương trong trường Võ Bị Đà Lạt. Giống như các ngôn ngữ khác, từ ngữ hay tên gọi thường có hơn một ý nghĩa. Trong tiếng Việt, nghĩa thứ hai của Lương, hay gọi cùng âm nhưng khác chữ, còn có nghĩa là “lươn” hay con lươn. Nghĩa thứ hai của Nhái, còn có nghĩa là “nhái” hay con nhái. Vậy thì, Sói Biển sẽ “chơi” theo “thú vật”, “thiếu uý lươn” và “thiếu uý nhái”. Thiếu Uý Lương về với Đại Đội 4, Thiếu Uý Nhái thuộc Đại Đội 2. Mọi người cùng nhau cười thoải mái về sự việc này. Đó là việc “hai con vật”, vừa sống trên cạn, vừa sống dưới nước và cũng là lính Thủy Quân Lục Chiến, là điều tự nhiên, việc tốt lành. Thiếu Tá Lê Bá Bình luôn nhận những điều tốt lành có được. Sau cùng, việc chính yếu, là việc lo tiêu diệt bọn cộng sản.

Trung Đội 1, Đại Đội 4, Tiểu Đoàn 3 Sói Biển
Một nơi, gần Tây Bắc Ái Tử
12 tháng Tư năm 1972
Lúc bóng đêm vừa đến

Sau khi Tiểu Đoàn 3 Sói Biển được hoán chuyển từ Đông Hà về căn cứ Ái Tử, tiểu đoàn được bổ sung thêm các người lính tân binh từ căn cứ Sóng Thần, đây là đợt bổ sung quân số đầu tiên kể từ khi trận chiến xảy ra. Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến đã không còn cho phép các đơn vị được nghỉ ngơi, dưỡng sức sau những nhiệm vụ quá khó khăn. Sau trận chiến đẫm máu tại Đông Hà và cuộc lui binh về phía Nam, trách nhiệm nhẹ nhất mà người lữ đoàn trưởng có thể giao cho tiểu đoàn là: làm nhiệm vụ tăng cường cho Tiểu Đoàn 1 việc phòng thủ căn cứ Ái Tử.

Thiếu Uý Nguyễn Lương trình diện Đại Đội 4, Tiểu Đoàn 3 vào hôm sáng sớm đầu năm, và chỉ trong hai tuần lễ đầu tháng Tư đã chịu đựng sự thử thách và kinh nghiệm của chiến trường một cách dữ dội và mau chóng, ông trông giống như các người lính Sói Biển lâu năm trong đơn vị. Trong các đơn vị chiến đấu, các sĩ quan mới nắm trung đội cần phải học hỏi nhiều, và con đường gai góc nhất là phải luôn tiến thẳng, giống như cố gắng leo lên một cái dốc thẳng đứng, như tất cả các người lính Thủy Quân Lục Chiến hiện đang nhận lãnh nhiệm vụ quá nặng nề tại phía bắc tỉnh Quảng Trị.

Tiểu Đoàn 3 Sói Biển, từ sau khi viên cố vấn Ripley giật sập cây cầu Đông Hà, vẫn tiếp tục hành quân với hai cánh A và B. Thiếu Tá Bình và viên cố vấn nằm với cánh A, gồm hai đại đội 1 và 3, cùng với hầu hết trung đội vũ khí và bộ chỉ huy tiểu đoàn. Cánh B do viên tiểu đoàn phó chỉ huy, gồm hai đại đội 2 và 4, cánh B không có cố vấn đi cùng.

Đại Đội 4 chịu trách nhiệm bảo vệ sườn tây tiểu đoàn, đại đội nằm bên ngoài căn cứ Ái Tử. Tuy trận chiến không còn là mới mẻ và tuy quân địch đã không thể tràn qua sông Cửa Việt. Nhưng, bù lại, chúng đã đưa được quân bộ chiến băng qua đầu con suối ngay cầu xe lửa cũ, và chiến xa địch cũng đã tiến gần hơn từ phía tây Cam Lộ. Thật là không may cho các người lính Thủy Quân Lục Chiến, cho dù Không Quân Hoa Kỳ đã yểm trợ mãnh liệt, nhưng vẫn không giúp chận đứng được quân địch, và quân cộng sản Bắc Việt, với quân số đông đảo trên chiến trường, hiện đang tràn về hướng đông, bọn chúng càng lúc càng tiến đến gần căn cứ Ái Tử.

Trung Đội 1 của Thiếu Uý Lương, thuộc Đại Đội 4, nằm xa nhất về hướng tây trong vùng trách nhiệm của đại đội. Suốt cả ngày, trung đội chạm địch liên tục, và dĩ nhiên, quân địch luôn vượt trội hơn về hỏa lực, chúng tiến sát gần trung đội để tránh không cho hải pháo Hoa Kỳ, từ các chiến hạm đang nằm ngoài khơi, bắn yểm trợ lính Thủy Quân Lục Chiến, trong lúc các khẩu súng cối 82 ly của chúng bắn nhiều nơi cùng một lúc, luôn gây khó khăn cho trung đội nầy.

Gần hai tuần chỉ huy trung đội, Thiếu Uý Lương gần như đã đồng hóa với những người lính cũ trong trung đội, ông đã cố gắng học hỏi cho thật nhiều những kinh nghiệm chiến trường từ trận chiến tuy mới, nhưng quá khốc liệt. Khi trời vừa sụp tối, quân địch từ trước mặt và từ sườn trái được sự yểm trợ của các khẩu cối 82 ly mở cuộc tấn công vào vị trí của trung đội. Với quân số đông đảo và súng cối địch pháo quá dữ dội, Thiếu Uý Lương biết ông cần phải trì thủ trận tuyến và lui binh về gần một trung đội khác đang ở một vị trí gần đó. Với quân địch đang tiến công nhanh, Thiếu Uý Lương cho thành phần đầu của trung đội lui về sau trong vòng kỷ luật, ông chờ cho ba tiểu đội và một vài người lính trong trung đội vũ khí (được tăng cường cho trung đội) di chuyển an toàn, rồi ông với toán chỉ huy trung đội mới chịu rời bỏ vị trí.

Cùng với Thiếu Uý Lương là ba người lính Thủy Quân Lục Chiến khác, Hạ Sĩ Thanh, người mang máy truyền tin, Hạ Sĩ Được, tên “cao bồi” và một người lính trẻ tên là Lợi. Khi họ vừa bước vào bóng đêm, ngay sau dấu vết của các người lính trong trung đội, thì cối địch cũng đồng loạt rớt vào ngay và chung quanh họ. Hai trong ba người lính chết ngay tức thì, Hạ Sĩ Được bị thương rất nặng và hy sinh trong một thời gian ngắn. Thiếu Uý Lương vói tay tới Hạ Sĩ Thanh, người lính mang máy và biết được chiếc máy truyền tin PRC-25 mà Hạ Sĩ Thanh đang mang trên lưng, đã bị các mảnh đạn cối phá hư, không còn sử dụng được nữa. Lúc ấy, đạn bắn quá ác liệt, Thiếu Uý Lương phải phóng người tìm chỗ an toàn mà không biết rằng mình vừa bị trúng đạn địch. Không thể định chắc được thời gian, ông nghĩ chỉ trong một khoảnh khắc ngắn trước khi ông cảm nhận được dòng máu nóng đang chảy vọt ra từ bên chân trái của ông.

Pháo địch vẫn còn tiếp tục nổ vang, và cho một vài lý do, quân địch vẫn chưa tiến đến vị trí chỉ do bốn người lính Thủy Quân Lục Chiến trấn giữ, ba trong bốn người này đã hy sinh. Thiếu Uý Lương biết quân địch đang đến gần, ông đã nghe tiếng nói và đã ngửi được “mùi” của quân địch. Không thể đứng dậy được vì vết thương ở chân, ông nằm im vì sợ quân địch sẽ phát giác ra ông. Thiếu Uý Lương được đất và bụi che phủ vì những quả đạn cối bắn vào vị trí của ông trước đó, ông đang cô đơn một mình, trong khi trung đội, ông hy vọng, đã thoát được cơn pháo dữ dội của địch và đang ẩn mình ở một nơi nào đó, không xa phía đông của ông cho lắm.

Thiếu Uý Lương nằm kẹt lại một mình trong bóng đêm. Ông biết chắc các người lính trong trung đội sẽ trở lại tìm ông khi tình hình cho phép. Cho đến khi ấy, ông phải giữ bình tỉnh, với ba thân xác đồng đội nằm bất động quanh ông, ông chờ đợi quân địch tiến vào vị trí của ông, có lẽ chỉ trong vòng ít phút nữa. Thiếu Uý Lương giật lấy trái lựu đạn từ thắt lưng của người lính “cao bồi” của ông, ông rút cái chốt an toàn ra, rồi che dấu trái lựu đạn trong người. Nếu quân cộng sản Bắc Việt muốn bắt được ông, bọn chúng sẽ phải trả một cái giá đắt. Bây giờ, ông chỉ còn một việc là chờ đợi, và ông đã chờ.

Hai tuần lễ vừa qua đã cho Thiếu Uý Lương hiểu là, chiến trận không hẳn lúc nào cũng tiến triển theo con đường thẳng. Cho một vài lý do mà ông không biết được, quân cộng sản Bắc Việt lại dừng bước, chỉ trước mặt ông khoảng một vài thước. Thiếu Uý Lương vẫn nằm im, trái lựu đạn vẫn còn trong lòng bàn tay, máu vẫn rỉ dưới chân và ông thở nhẹ, cố gắng thở thật nhẹ.

Thiếu Uý Lương không định được thời gian, sự đau đớn và nhịp đập nhanh từ ngay vết thương, ngay cái lỗ hổng của chân, mà trước đó, ông đã dùng băng cá nhân quấn chặt, cố gắng giữ không cho máu chảy ra ngoài, đã nhắc nhở cho ông biết rằng ông đang còn sống, nhưng cũng đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Cứ trong vài phút khi tay đã mỏi mệt vì phải cầm chặt trái lựu đạn, ông vội chuyển trái lựu đạn sang tay khác, vẫn biết quân địch sẽ đến bắt ông. Đôi lúc, ông thiếp đi, nhưng lại cố gắng luôn giữ cho tỉnh người vì sợ trái lựu đạn sẽ nổ tung.

Và sau cùng, chừng một hay hai giờ sau, quân cộng sản Bắc Việt đến, khoảng một tiểu đội quân địch từ đâu bỗng hiện đến. Thiếu Uý Lương nằm bất động, thở nhẹ, mắt nhắm kín, nhưng ông vẫn thấy chúng, vẫn cảm được bọn chúng, với chiếc nón cối đội trên đầu. Bọn chúng với súng AK cầm tay, lưỡi lê ngay đầu mũi súng, luôn sẵn sàng. Đối với bọn chúng, ông là một xác chết, cũng giống như ba người bạn đồng đội của ông.

Thiếu Uý Lương không bao giờ để ý đến, nhưng quân địch biết, ba người đồng đội của ông mang trên lưng các chiếc ba lô. Với kinh nghiệm chiến trường, lính Thủy Quân Lục Chiến biết quân lính Bắc Việt, tuy liều mạng trên chiến trường, nhưng lại là những dân quê nghèo nàn, không thể so bì với sự khá giả của các người lính miền Nam. Thiếu Uý Lương, may mắn lại không mang theo ba lô, nên lúc ấy, đã không bị quân địch lục soát, tìm thức ăn hay các đồ vật khác mà quân địch hiện đang lùng kiếm. Quân địch đâm lưỡi lê vào xác ba đồng đội của ông, rồi bắt đầu lấy các đồ vật trong các chiếc ba lô. Thiếu Uý Lương chờ đợi quân địch chỉa lưỡi lê vào người ông, giây phút và sự việc ấy đã không bao giờ xảy ra. Có thể quân địch đã không thấy ông, có thể bọn chúng thấy nhưng không buồn lục soát người ông. Dầu sao đi nữa, bọn chúng đã bước nhẹ đến và đã nhẹ bước ra đi, để lại người trung đội trưởng Thủy Quân Lục Chiến, hiện đang bị thương, vết thương vẫn còn rỉ máu, và vẫn im lặng, cầm giữ chặt trái lựu đạn trong tay.

Thiếu Uý Lương trở thành kẻ đơn côi sau khi các tên địch bỏ đi, bọn chúng chắc chắn đã rời bỏ vị trí này, hay ông chỉ phỏng đoán vậy, khi mà những nhát lưỡi lê đâm vào da thịt các bạn đồng đội vẫn còn mới tươi. Thiếu Uý Lương vẫn còn sáng suốt và trực giác của ông cho biết ông vẫn còn đang ở nơi nguy hiểm, ông nằm im chờ đợi, vẫn với trái lựu đạn trong tay.

Nỗi lo ngại của ông về việc quân địch vẫn còn hiện diện quanh ông nay đã trở thành một nỗi lo khác, ông sợ rằng tinh thần của ông không còn minh mẫn để nhắc cho ông biết việc ông phải giữ chặt trái lựu đạn trong tay. Vì bị mất máu quá nhiều và các sự việc khác vừa xảy ra quanh ông, Thiếu Uý Lương lo ngại ông sẽ bị mất tri giác, ông cố gắng giữ cho mình không đi vào cơn mê sảng, và ông biết cơ thể của ông cũng yếu dần đi, ông biết đến một lúc nào đó, ông sẽ bị kiệt lực.

Bây giờ, việc cầm chặt trái lựu đạn trong tay trở thành một việc quá khó khăn, nó giống như việc ông đã nắm chặt trái banh quần vợt trong nhiều giờ đồng hồ, các cơ thịt và cơ gân bắt đầu phàn nàn vì bị làm việc quá sức. Tuy vậy, Thiếu Uý Lương vẫn bắt mình phải giữ chặt nó, ông biết sức khoẻ ông đã suy giảm rất nhiều. Tuy ông biết chắc quân địch đã đi xa, ông vẫn cố gắng giữ trái lựu đạn với ông. Thiếu Uý Lương, giống như mấy giờ trước, vẫn còn trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê, có đôi lúc ông bị bất tỉnh, và rồi ông lại tỉnh lại, ông biết sẽ đến lúc nào đó, khi ông bị ngủ mê, ông sẽ buông trái lựu đạn, hay sẽ làm rơi nó vì quá mệt mỏi. Một trong hai điều này, nếu có xảy ra, chỉ làm ông bị thiệt mạng mà không giết chết được tên lính cộng sản Bắc Việt nào. Đoán chừng ông đang được an toàn, không còn quân địch quanh mình, ông quăng trái lựu đạn ra xa, cố gắng quăng thật xa khỏi ông và xác ba người bạn đồng đội.

Thiếu Uý Lương mất quá nhiều máu hơn ông đã nghĩ, ông thảy trái lựu đạn khi ông đang nằm ngửa, và trái lựu đạn đã không bay xa như ông dự tính. Khi trái lựu đạn nổ, ông cảm được nhiều miểng lựu đạn ghim vào cánh tay trái của ông. Không có những tiếng động chung quanh hay tiếng động di chuyển sau khi trái lựu đạn nổ, và máu từ vết thương cũ vẫn tiếp tục rỉ, cùng thêm với vết thương mới.

Bọn lính cộng sản Bắc Việt nay không còn trong vùng, Thiếu Uý Lương không còn lo việc sẽ bị lưỡi lê đâm, bị bắn, hay bị lựu đạn nổ banh người. Bây giờ, ông nghĩ đến việc sẽ bị mất hết máu, quân địch bây giờ là thời gian, sự lo lắng, sự nghi ngờ và sự hy vọng được tiếp máu. Ông có dư thì giờ để nghĩ đến nhiều việc: cuộc đời của ông, những thời gian đẹp nhất mà ông luôn giữ trong đầu, ông nghĩ đến cha mẹ, anh chị em, cô bạn gái, những người bạn cùng khoá Đà Lạt và các người lính trong trung đội. Và, ông đã nghĩ đến những việc này nhiều lần vì thời gian như dài vô tận. Không còn nghĩ đến việc trái lựu đạn sẽ làm ông banh xác, ông cho mình được quyền thiếp ngủ trong chốc lát. Ông vẫn giữ lạc quan, cố nghĩ đến mình là một người lính Thủy Quân Lục Chiến, luôn cố gắng mang danh dự về cho đơn vị và cho đất nước mình. Tự trong trái tim ông, ông đã biết, nếu cần, ông sẽ cho trái lựu đạn nổ banh xác ông, cùng chung với đám quân địch không đội trời chung, chớ nhất định không chịu để cho bọn chúng bắt làm tù binh. Không một ai có thể cản trở ông được. Thiếu Uý Lương vẫn nằm một mình, không biết được việc gì sẽ đến trước, ông sẽ chết vì mất máu, hay sẽ có một điều linh diệu nào đó, sẽ đến cứu ông.

Ngay một vùng thuộc phía tây Ái Tử, nơi Thiếu Uý Lương nằm đơn côi một mình, lúc mê lúc tỉnh, trong cái lặng im dị thường và thời gian như dài bất tận. Thì, tại các nơi khác ở Việt Nam, cuộc chiến vẫn tiếp diễn và lan tràn một cách ác liệt. Tại vùng cao nguyên và về hướng nam của quê hương ông, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đang chống trả quyết liệt, nhất quyết không cho quân cộng sản Bắc Việt tràn ngập và chiếm giữ các vùng đất này. Không Quân Hoa Kỳ cũng yểm trợ cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa rất tận tình. Riêng tại tỉnh Quảng Trị, cuộc chiến vẫn tiếp tục, ngoại trừ nơi Thiếu Uý Lương đang nằm.

Trung Sĩ Nhất Diệm (Điềm?) dẫn các người lính tìm kiếm toán bị mất tích của Thiếu Uý Lương. Người lính kỳ cựu Diệm. Tháng trước, Thiếu Uý Lương, còn độc thân, đã vui vẻ đưa cho Diệm nửa tháng lương của mình, khi biết Diệm vừa có được đứa con đầu lòng, coi như đây là một món quà cho đứa bé vừa mới sanh ra đời. Việc này làm cho Trung Sĩ Nhất Diệm cảm động. Đối với hầu hết những người lính trong trung đội, Diệm là người lính Thủy Quân Lục Chiến đúng nghĩa. Theo Thiếu Uý Lương, Trung Sĩ Nhất Diệm có lẽ đã ở trong Thủy Quân Lục Chiến cả đời, tuy ông biết Diệm, thâm niên quân vụ hơn ông chưa đến mười năm. Trung Sĩ Nhất Diệm là người giỏi võ, ông ta đối với Thiếu Uý Lương giống như Jack (người lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, cận vệ cho Thiếu Tá Bình, cái tên Jack do Ripley đặt) đối với Ripley (Đại Uý John W. Ripley, cố vấn tiểu đoàn), gan dạ, tự tin, quả quyết, không hề sợ hãi, kinh nghiệm đầy mình. Trung Sĩ Nhất Diệm đúng là một người lính Thủy Quân Lục Chiến nhà nghề.

Họ đến vào khoảng bốn giờ, hay có lẽ là năm giờ sáng. Thiếu Uý Lương không còn biết được thời gian khi được Trung Sĩ Nhất Diệm lay tỉnh, hai người nói thật nhỏ cho nhau nghe về tình hình và tình trạng vừa xảy ra. Rồi thì, người trung sĩ nhất to lớn vác người trung đội trưởng của mình trên vai, biết rằng người trung đội trưởng đang đau đớn và máu vẫn rỉ trên những vết thương, Trung Sĩ Nhất Diệm quyết tâm mang cho được Thiếu Uý Lương về tới phòng tuyến quân bạn.

Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến và luôn cả Lục Quân Việt Nam Cộng Hòa không có đủ những điều kiện cần thiết trong việc lo tản thương, hay chăm sóc cho các người lính bị thương vong ngay lúc trận chiến đang xảy ra bằng người bạn đồng minh Hoa Kỳ. Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam tổ chức gần giống như Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, chỉ khác là họ không trực thuộc Hải Quân, bởi vì việc tiếp liệu, tiếp tế khó khăn nên ít khi họ tổ chức hành quân chung với nhau (Hải Quân Việt Nam). Khi mà Hải Quân Hoa Kỳ lo việc cung cấp y tế, thuốc men và chữa trị cho lính Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ thì Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam phải tự lo liệu lấy. Mỗi tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam có một bác sĩ đi theo tiểu đoàn và có thêm một toán y tá đi cùng. Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ cũng chỉ có một bác sĩ cho mỗi tiểu đoàn, nhưng số lượng y tá cho tiểu đoàn thì nhiều hơn phía Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam.

Trong tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, người bác sĩ sẽ đi chung với cánh A, trong lúc viên y tá trưởng đi theo cánh B, các người y tá còn lại sẽ được chia đều cho hai cánh A và B, những người y tá này sẽ được phân chia cho các đại đội, nhưng ít khi xuống tới cấp trung đội như các cuộc hành quân phía Hoa Kỳ. Bởi vì không đủ quân số, nên các y tá nằm lại trong các khu vực dành cho việc chữa trị thương binh và các người lính bị thương sẽ được mang đến chỗ họ.

Trung Sĩ Nhất Diệm dùng hết sức lực để mang cho được người trung đội trưởng của mình đến tận nơi cứu thương gần nhất, ông đã cố gắng bước chân đi, sao cho Thiếu Uý Lương bớt bị đau đớn, ít nhất thì họ cũng đang ở trong tay quân bạn và đang đi đúng hướng.

Sau cùng, họ cũng đến nơi, cả hai thật sự đã kiệt sức, các tấm bảng hướng dẫn cho biết nơi cứu thương và chỗ chờ tản thương. Các vị sĩ quan được mang đi bằng xe Jeep, trên xe có gắn băng ca cứu thương, còn binh sĩ được di tản trên các chiếc GMC cứu thương.

Biết rằng Trung Sĩ Nhất Diệm đã quá mệt mỏi, Thiếu Uý Lương bảo Diệm mang ông đến chiếc GMC. Vài phút sau đó, cả hai chiếc Jeep và GMC chạy về bệnh viện dã chiến của Sư Đoàn 3 Bộ Binh, một nơi nằm giữa chỗ họ vừa đi và Quảng Trị.

Đoàn xe chỉ với hai chiếc Jeep và GMC vừa chạy khoảng được hai trăm mét thì bị ăn pháo địch. Chiếc xe Jeep chạy trước bị trúng viên đạn pháo kích, nổ tung ngay trước mặt chiếc GMC đang chạy phía sau. Viên tài xế chiếc GMC tuy bị kích động, vẫn tống ga chạy, cố gắng chạy nhanh qua khỏi nơi hung hiểm này. Những người lính bị thương, ngồi hay nằm phía sau xe bị bốc tung lên như các con thú nhồi bông, nhưng ít ra, họ vẫn còn sống sót.

Cuộc hành trình về bệnh viện dã chiến Sư Đoàn 3 Bộ Binh giữa Ái Tử và Quảng Trị chưa phải là nơi an toàn cuối cùng. Ngồi phía sau xe với Thiếu Uý Lương, dĩ nhiên phải là Trung Sĩ Nhất Diệm, tuy rằng bệnh viện được cho là nơi “hậu phương” so với Ái Tử và Đông Hà, nhưng quân cộng sản Bắc Việt hiện đang có mặt ở khắp nơi. Và các người lính trong bộ tư lệnh sư đoàn, hiện đang lo giữ an ninh cho bệnh viện, chắc chắn không phải là những người lính thiện chiến.

Trung Sĩ Nhất Diệm muốn Thiếu Uý Lương phải được đưa về Bệnh Viện Dã Chiến Sư Đoàn 3 Bộ Binh, viên trung sĩ nhất đầy kinh nghiệm này luôn theo sát người trung đội trưởng của mình, ông ta vẫn nghi ngại, vẫn nghĩ rằng tình hình chưa được sáng sủa cho lắm. Chưa đầy một giờ sau khi họ đến được bệnh viện, khi mà Thiếu Uý Lương còn nằm trên chiếc băng ca chờ được chữa trị, một toán quân địch tấn công thẳng vào bệnh viện. Trung Sĩ Nhất Diệm vẫn còn sáng suốt, ông mang Thiếu Uý Lương chạy sang nơi khác trước khi quân cộng sản Bắc Việt đến chỗ họ vừa ở. Nếu Trung Sĩ Nhất Diệm chờ thêm ít phút nữa, cả hai chắc bị mất mạng. Quân cộng sản Bắc Việt bắn và đâm chết các nhân viên và các bệnh nhân trước khi bọn chúng rút đi. Trật tự rồi cũng được vãn hồi, Thiếu Uý Lương được tản thương về phía nam Quảng Trị, Trung Sĩ Nhất Diệm luôn có mặt bên cạnh.

Tuy thành phố Quảng Trị nằm gần nơi chiến trận, nhưng hiện thành phố vẫn còn nằm trong vòng kiểm soát của quân bạn, an toàn vừa đủ để cho bà Thiệu, phu nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến thăm các thương binh. Thiếu Uý Lương vẫn còn đang chờ tới phiên được bác sĩ chăm sóc thì được bà Thiệu đến thăm. Theo phong tục Việt Nam, bà tặng cho các thương binh một phong bì, bên trong phong bì là một ít tiền. Việc làm này, cũng gần giống như các thương binh Hoa Kỳ có thể được ân thưởng huy chương Purple Hearts (Chiến Thương Bội Tinh). Bà Thiệu, khi được Trung Sĩ Nhất Diệm cho biết về câu chuyện của Thiếu Uý Lương, bà đã tặng cho Thiếu Uý Lương mười phong bì, và bà cũng tặng cho Trung Sĩ Nhất Diệm vài cái phong bì.

Trong bệnh viện tại Quảng Trị, Thiếu Uý Lương nhớ mang máng, hình như mình được gặp bà Thiệu, được các bác sĩ chăm sóc, được tiếp máu, và được mang lên một chiếc máy bay. Chắc là nhờ bà Thiệu gởi gắm. Khi Thiếu Uý Lương hồi tỉnh lại, ông đang nằm trong bệnh viện của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, một nơi gần Sài Gòn.

Lê Hữu Sanh – Bệnh Viện Thủy Quân Lục Chiến
Thủ Đức – Ngoại ô Sài Gòn

Các bác sĩ trong hội đồng giám định y khoa tại bệnh viện cho Thiếu Uý Lương biết họ phải cưa chân ông, ngay bên trên đầu gối. Viên bác sĩ trưởng khoa giải phẩu giải thích cho ông rằng, lẽ ra không cần cưa cái chân của ông, tuy vậy, cái chân bị thương tích quá nặng, các xương chân sẽ không bao giờ nằm thẳng lại được. Cho dù vết thương sẽ lành, ông sẽ bị đau nhức suốt đời, và cái chân sẽ gầy mòn và suy yếu, cho đến, nếu ông di chuyển bình thường, cũng là một việc rất khó khăn. Nếu họ cưa bỏ chân ông, ít nhất, ông cũng có một cái chân giả để đi đứng. Cả hai điều này, mà ông rất thất vọng, sẽ chấm dứt cuộc đời binh nghiệp của ông. Tuy còn rất trẻ, nhưng đã trưởng thành trước tuổi, ông im lặng chấp nhận cái biến cố đau buồn này. Trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa vẫn đang tiếp diễn, nhưng lại không có mặt Thiếu Uý Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Lương.

Giải Ngũ Vì Thương Tích

Cha mẹ và cô bạn gái của Thiếu Uý Nguyễn Lương biết tin ông bị thương và đang nằm trong bệnh viện Lê Hữu Sanh là một việc rất hy hữu. Một người bạn thiếu thời ở Biên Hòa của Lương, bấy giờ là một viên trung uý Thủy Quân Lục Chiến, nhưng không cùng Tiểu Đoàn 3, lại đang nằm trên giường bệnh, kế cận bên giường của Lương, điều trị cho những vết thương trong chiến trận. Vì đến bệnh viện trước Lương nên anh này được gia đình thăm viếng thường xuyên. Khi Lương vừa được chuyển vào phòng, cha mẹ anh ta nhận ra Lương ngay tức khắc, và họ cũng báo tin cho gia đình Lương liền tức thì. Việc này, làm cho thủ tục báo tin tức (về việc Lương bị thương) cho gia đình Lương, cũng không còn cần thiết.

Phải mất hết tám tháng, từ những việc như cưa chân, rồi thêm vật lý trị liệu, và cố gắng làm quen với cái chân giả. Sau cùng, vào tháng Giêng năm 1973, Lương giã từ binh chủng Thủy Quân Lục Chiến. Tuy rất đau lòng về việc không còn được phép phục vụ trong quân ngũ, nhưng Lương cũng hài lòng, vì ít nhất, ông cũng còn là một con người nguyên vẹn (trừ cái chân giả), ông vẫn còn khoẻ mạnh làm được mọi việc, chỉ trừ việc dẫn các người lính Thủy Quân Lục Chiến đi vào nơi chiến trận.

Tiền cấp dưỡng cho các thương phế binh không được nhiều cho lắm. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp cho người cựu thiếu uý mỗi một quý 105,000 đồng – khoảng chừng 260 đô la với giá đổi chính thức. Thêm vào đó, những đứa con trong tương lai của Lương sẽ bảo đảm được nhận vào các trường công.

Thật là may mắn cho Lương, nhờ vào khả năng về khoa học thực dụng và văn bằng kỹ sư, Lương tìm việc làm không khó lắm. Và, còn may phước thêm cho Lương, khi người lo việc mướn Lương vào làm công việc trông coi và điều hành các máy móc trong Nhà Máy Điện Biên Hòa, lại là người thầy cũ của Lương. Vị thầy này đã biết Lương là một học sinh luôn chăm học và ngày xưa ông cũng yêu quý Lương lắm. Lương tháng tại nơi này, nhiều gấp bội tiền phụ cấp thương phế binh của Lương, làm cho ông có một đời sống dễ chịu. Lương và cô bạn gái lâu năm, người yêu từ thời trung học, lo tính chuyện xây dựng đời sống gia đình.

Sài Gòn – 30 tháng Tư năm 1975

Lúc gần giữa khuya, sau khi chiếc trực thăng Cobra của hai viên phi công Bowman và Androskaut bay yểm trợ cho chuyến di tản cuối tại cơ quan DAO, cuộc di tản Sài Gòn coi như đã tạm ngưng. Nhưng, sau cùng, cuộc di tản này lại tái hoạt động liền sau đó, ngay tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, kéo dài cho đến lúc gần sáng ngày 30 tháng Tư. Vào lúc 4 giờ 58 sáng, chiếc trực thăng CH-46, tên phi vụ “Lady Ace 09”, cất cánh rời khỏi nóc nhà của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, mang theo Đại Sứ Graham Martin (có người con trai nuôi đã chết trận tại Việt Nam) cùng với vài nhân viên dân sự, và lá cờ (tượng trưng cho quyền lực của người Hoa Kỳ), mới trước đây còn phất phơ bay trên tòa nhà tối cao của Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Các người lính Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ lo việc bảo vệ viên đại sứ cũng rời khỏi tòa nhà này trên chiếc trực thăng cuối cùng ngay sau đó, chấm dứt sự hiện diện của người Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Chỉ trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ, trực thăng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã bay 682 phi vụ, mang đi 1,373 người Hoa Kỳ và 5,595 người khác (không thuộc quốc tịch Hoa Kỳ) đến các tàu chiến chờ sẵn ngoài khơi. Cho hơn năm ngàn người Việt Nam đã không phải đối mặt với tử thần hay chốn lao tù, đó là những giờ phút chờ đợi căng thẳng, nhưng sau cùng họ cũng còn có được sự tưởng thưởng, tự do. Cho những người Việt Nam khác (không thể biết được con số) những người hy vọng sẽ ra đi hay vì sự việc gì đó đã chọn ở lại, cuối ngày này sẽ không còn có những gì gọi là tươi sáng nữa.

Khoảng 12 giờ trưa, giờ Sài Gòn của ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi Hạm Đội Bảy bắt đầu rời khỏi chân trời phía đông và rẽ sóng về hướng Subic Bay (vịnh Subic, Phi Luật Tân), Cuộc Chiến Việt Nam, cuộc chiến mà bọn cộng sản, có đôi lúc gọi là Cuộc Chiến Hoa Kỳ hay chiến tranh chống Mỹ đã chấm dứt, chả có gì là danh dự, nhục nhã hay vinh quang cả. Với hầu hết các người dân Hoa Kỳ, vấn đề Việt Nam, đang là vấn đề thời sự hàng ngày, nay đã trở thành vấn đề thuộc về lịch sử. Riêng đối với những người công dân hiện đang rơi vào trạng thái hoang mang của nước Việt Nam Cộng Hòa, những cơn ác mộng đang đến với họ. Tuy vậy, những cơn ác mộng này vẫn chưa đủ để lên tới cực điểm kinh hoàng nhất.

Sự Khởi Đầu Của Việc “Học Tập Cải Tạo”

Cho thấy bản chất xảo quyệt và bản tính thật hèn hạ, bọn cộng sản cho thi hành phương pháp “học tập cải tạo” với tất cả sự khôn ngoan lẫn hành động hung ác. Được biết đến ở phương Tây bằng tư tưởng tự do hay các uyển ngữ đẹp, từ ngữ “học tập cải tạo” hay “cải tạo tư tưởng” bằng tiếng Việt không ngoài hơn là tổ chức báo thù có quy mô to lớn. Không phí thời gian ngay sau khi chiến thắng, bọn chúng chiếm lĩnh tất cả các hệ thống truyền thông và truyền hình. Vào ngày 3 tháng Năm, đài ra-đi-ô tuyên bố chương trình học tập cải tạo bắt đầu tiến hành. Đợt đầu tiên sẽ là các viên chuẩn uý, hạ sĩ quan và binh sĩ. Bởi vì những người này không phải là những người then chốt chống lại cộng sản, thời gian học tập của họ sẽ kéo dài trong ba ngày. Sau ba ngày học tập, các người này được trả về với đời sống dân sự, việc này làm cho công chúng có chút ít tin tưởng hơn về phía cộng sản. Các sĩ quan trung và cao cấp là những người kế tiếp đi học tập cải tạo. Và, do tội của họ được nhà cầm quyền mới xét xử nặng hơn, thời gian học tập của họ sẽ là ba mươi ngày. Thật sự là nhóm đầu tiên đã được trả về đúng thời gian mà bọn cộng sản đã hứa, việc này làm tiêu tan hết những nghi ngờ của các người hoài nghi. “Ba mươi ngày. Tệ hại tới cỡ nào?”. Khi Trung Tá Bình và các người khác bị gọi tập trung, họ được cho biết mang theo thức ăn cho ba mươi ngày. Bình cũng được cho biết cần phải mang theo quần áo ấm. “Quần áo ấm? Chuyện nầy là như thế nào đây, hay chỉ là một phần trong chương trình của bọn cộng sản lường gạt chúng ta?”. Những người bị kẹt lại còn có sự lựa chọn nào hơn? Bọn cộng sản có súng ống mà. Đối kháng thêm với bọn chúng chỉ đem lại nhiều khổ đau cho gia đình mà thôi.

Dĩ nhiên là sự lừa dối vĩ đại đã thành công. Luôn là những tên lừa bịp vĩ đại, khi cái nhóm mà bọn cộng sản muốn bắt giữ, các sĩ quan trung và cao cấp đã bước vào trong cái bẫy, giống như những con cừu bước vào lò sát sinh, họ sẽ không có đường thoát, sẽ không bao giờ có đường thoát. Tấn thảm kịch đã xảy ra cho gia đình Bình, cũng là tấn thảm kịch lặp đi lặp lại hàng trăm ngàn lần. Những sự đau khổ mà Bình và vợ con đã chịu đựng, cũng giống như hàng trăm ngàn gia đình người Việt khác bị rơi vào bẫy và bị bắt buộc phải sống dưới hệ thống trả thù “học tập cải tạo”, vượt xa hơn những gì mà người Hoa Kỳ đã có kinh nghiệm ở Việt Nam.

Trại Tù Lao Động Khổ Sai

Thiếu Uý Nguyễn Lương, người đã giải ngũ vì lý do thương tật, đã may mắn không phải đi vào trại tập trung cải tạo ghê gớm kia, lý do chỉ vì lề lối làm việc lủng củng của đám cán bộ, chứ không phải do hành động tử tế của những kẻ xâm lăng từ phương Bắc. Và Lương, nhờ vào khả năng nhanh lẹ và cũng nhờ vào một sự việc ăn khớp đã giúp thêm cho trường hợp của ông ta.

Ngay sau khi cộng sản chiếm được miền Nam, cái bộ xã hội chuyên lo việc phụ cấp cho thương phế binh (vẫn làm việc) cho đến những ngày cuối tháng Tư năm 1975 đã không còn nữa, số tiền lương nhỏ bé trả cho các thương phế binh quân đội Việt Nam Cộng Hòa hàng tháng đã bị chấm dứt. Sẽ không còn những trường học công lập, mở cửa chào đón các con em của những người đàn ông, những người đã xả thân hết mình cho cái nước, nay đã không còn hiện hữu nữa, nước Việt Nam Cộng Hòa. Những kẻ thống trị mới, sức mấy mà chịu thưởng công cho những người đã chiến đấu chống lại bọn chúng.

Vào tháng Năm, Lương, giống như những người khác (các sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa), những người được lệnh phải trình diện đi học tập cải tạo (trại tù lao động khổ sai), là đợt ra đi đầu tiên, theo cấp bậc. Tuy vậy, cũng có những sự lo ngại về việc các hạ sĩ quan và các viên chuẩn uý của những binh chủng thiện chiến như – Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Nhảy Dù, có thể sẽ bị chỉ đích danh, sẽ đặc biệt bị trừng phạt và có thể sẽ bị nhiều hơn ba ngày mà bọn chủ nhân mới, đã rêu rao.

Trong những tuần đầu sau khi mất Sài Gòn, chính quyền mới có quá nhiều khó khăn và lộn xộn trong công việc giải quyết các vấn đề, việc này lại mang đến may mắn cho viên cựu sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến. Khi Lương đến trình diện, ông cho tên cán bộ, người lo việc kiểm soát giấy tờ, biết rằng, công việc mà ông đang làm tại Nhà Máy Điện Biên Hòa, là một công việc hết sức quan trọng. Nếu Lương mà bị đi tù, cả thành phố Biên Hòa sẽ bị mất điện. Và, điều này, sẽ gây khó khăn cho mọi người, ngay cả những người cộng sản.

Thật ra, nếu không có mặt Lương, nhà máy điện vẫn tiếp tục hoạt động, nhưng tay cán bộ cấp nhỏ kia, nào hiểu được điều này. Hắn ta không phải là một người kỹ sư. Và, may mắn cho Lương, tên này cũng biết sợ, không muốn làm mất lòng những tên xếp của hắn, hoặc hắn không muốn cho người lính Thủy Quân Lục Chiến của quân đội Việt Nam Cộng Hòa biết rằng, là ta, chả có quyền hành gì cả. Cả hai điều này, theo hắn (ra vẻ ta đây), nếu Lương mà biết được, hắn ta sẽ bị quê mặt.

Vậy đó, Lương đã không phải bị sỉ nhục và bị đau khổ về cả thể xác lẫn tinh thần trong các trại tù lao động khổ sai. Nhưng rồi Nhà Máy Điện Biên Hòa cũng phải đổi chủ, bọn chủ cộng sản. Ban giám đốc mới đã không có chỗ cho người lính cựu Thủy Quân Lục Chiến và Lương đã không được giữ lại. Vậy mà ông ta lại cho rằng mình là một người may mắn, vì được nhận làm nhân viên cho một cơ sở làm nước đá, không xa nhà ở Biên Hòa mấy. Ít ra thì ông vẫn còn có việc làm trong cái “thiên đường xã hội chủ nghĩa” kia. Người tiểu đoàn trưởng kính mến của ông, đã không có được những sự may mắn đó.

Tránh khỏi việc phải vào trại tù lao động khổ sai của Việt cộng, Nguyễn Lương đã phải chứng kiến và có nhiều kinh nghiệm đau khổ cùng với những nỗi buồn trong cái sự việc thống nhất đất nước. Sau khi rời khỏi quân ngũ, Lương lập gia đình với cô bạn gái quen biết lâu năm, họ có hai người con, một trai và một gái. Và giống như Bình (Trung Tá Lê Bá Bình), nhờ vào chương trình ODP (Orderly Departure Program), họ đã đến được Hoa Kỳ. Lương và gia đình hiện đang định cư và làm việc tại Bắc California.

Người dịch xin phép tác giả và bạn đọc được viết vài trang tóm lượt về Tiểu Đoàn 3 Sói Biển và Thiết Đoàn 20 Chiến Xa với trận đánh cầu Đông Hà, với hy vọng các bạn đọc trẻ, sẽ hiểu biết thêm về sự chiến đấu dũng cảm, oai hùng giữa các người lính Sói Biển, lính Thiết Kỵ với quân số và đạn dượt bị thiếu hụt, chống lại quân số quá đông đảo về chiến xa, bộ binh và pháo binh của quân cộng sản Bắc Việt.

Vào lúc 12 trưa ngày 30 tháng Ba năm 1972, quân đội cộng sản Bắc Việt tập trung hỏa lực từ hai trung đoàn pháo binh và một trung đoàn hỏa tiễn, đồng loại pháo vào các căn cứ hỏa lực do các đơn vị Sư Đoàn 3 Bộ Binh và hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến trấn giữ. Sau những đợt pháo kích dữ dội, ba sư đoàn chính quy Bắc Việt cùng hai trung đoàn chiến xa chia làm bốn mũi từ hướng tây rặng Trường Sơn và từ phía bắc vùng phi quân sự tràn qua vĩ tuyến 17 tiến đánh tỉnh Quảng Trị.

Không được sự yểm trợ về không yểm vì thời tiết quá xấu, sau ba ngày chiến đấu, các đơn vị quân miền Nam đã phải rời bỏ các căn cứ (các căn cứ cực bắc nằm dọc theo vùng phi quân sự về phía bắc và các căn cứ cực tây nằm về phía tây, sát dãi Trường Sơn), triệt thoái về bờ nam sông Miếu Giang, lập phòng tuyến mới. Dân chúng tại các vùng Gio Linh, Cam Lộ và Đông Hà cũng theo các đơn vị miền Nam đang triệt thoái, tản cư khỏi những vùng đất này. Hai cây cầu Cam Lộ và Đông Hà được coi là hai vị trí quan trọng, vì chiến xa cộng quân sẽ dùng hai cây cầu này để tiến về thành phố Quảng Trị. Cộng quân sẽ chọn con đường đi qua cầu Đông Hà, vì đây là con đường tiến quân gần nhất. Tiểu Đoàn 3 Sói Biển là đơn vị trừ bị của Lữ Đoàn 258 được giao nhiệm vụ phòng thủ thị trấn Đông Hà, tiểu đoàn được xem là đơn vị chiến đấu ở xa nhất về phía đông bắc tỉnh Quảng Trị. Nếu quân cộng sản Bắc Việt tràn qua được Đông Hà, thành phố Quảng Trị có thể sẽ bị mất vào tay giặc (vì quân tăng viện từ miền Nam chưa kịp không vận đến Huế), và bọn cộng sản Bắc Việt, chắc chắn sẽ tiến quân về Huế.

Cùng lo bảo vệ Đông Hà với các người lính Sói Biển là Thiết Đoàn 20 Chiến Xa (chỉ có một tiểu đoàn) với gần 50 chiến xa M-48. Vì có nhiều tin đồn (do cộng quân tung ra) là quân đội miền Nam đã bỏ Đông Hà, việc này gây hoang mang và làm cho các đơn vị quân miền Nam bị mất tinh thần. Thiếu Tá Lê Bá Bình, tiểu đoàn trưởng, đã cho đánh một công điện, ghi rằng:

“Có tin đồn cho rằng thị trấn Đông Hà đã lọt vào tay giặc. Những người lính Tiểu Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến hiện đang có mặt tại Đông Hà. Chúng tôi được lệnh chận giặc tại Đông Hà, chúng tôi sẽ chiến đấu và sẽ hy sinh tại Đông Hà. Những người lính Thủy Quân Lục Chiến sẽ tử thủ tại đây, chỉ cần một người lính Sói Biển còn hít thở không khí tự do, Đông Hà luôn thuộc về Thủy Quân Lục Chiến.”

Để chuẩn bị đối phó với cộng quân đang hăm he tiến chiếm thị trấn Đông Hà, Thiếu Tá Lê Bá Bình, Đại Uý John W. Ripley và các sĩ quan trong tiểu đoàn đã dành rất nhiều thì giờ chuẩn bị cho trận đánh ác liệt này. Những vị trí phòng thủ quan trọng, những yếu điểm, lợi điểm được bàn cãi, mổ xẻ cẩn thận, những kế hoạch về không kích, những tuyến hỏa tập cho pháo binh, cho hải pháo, cũng như phối hợp với Thiết Đoàn 20 Chiến Xa đã được chuẩn bị một cách chu đáo. Hai cây cầu nằm trên quốc lộ 1 (cầu xe lửa và cầu bộ hành) là hai vị trí quan trọng cần được bảo vệ bằng mọi giá, việc đặt chất nổ để khi cần thiết phải giật sập cầu cũng được nói đến. Đại Đội 1 sẽ phòng thủ cây cầu bộ hành dọc theo phía nam và dài về hướng đông (hướng ra biển), Đại Đội 4 chịu trách nhiệm cây cầu sắt về phía tây, các trục lộ phía tây (hướng về rặng Trường Sơn) do Đại Đội 2 chịu trách nhiệm. Đại Đội 3 nằm trên những ngọn đồi thấp theo hướng bắc nam. Hai chi đoàn chiến xa nằm phía sau hai đại đội 1 và 4, bộ chỉ huy Thiết Đoàn 20 và bộ chỉ huy Tiểu Đoàn 3 nắm cách xa hai cây số.

Sáng ngày 2 tháng 4 năm 1972, một chiếc xe Dodge, gồm ba người lính bộ binh và một viên cố vấn Hoa Kỳ chở đầy thuốc nổ cho công tác đặt mìn tại hai cây cầu chạy đến gần cầu Đông Hà, các người lính Thủy Quân Lục Chiến phụ mang chất nổ lên cầu, hai viên cố vấn Đại Uý Ripley và Thiếu Tá John Smock (cố vấn cho Thiết Đoàn 20 Chiến Xa) sẽ lo việc gắn các ngòi nổ vào dưới lườn cầu. Một trung đội Thủy Quân Lục Chiến bắn yểm trợ, không cho quân cộng sản nhắm bắn vào hai viên cố vấn Hoa Kỳ. Pháo binh cộng sản cũng bắt đầu pháo vào thị xã Đông Hà một cách dữ dội, sau những trận pháo rung trời chuyển đất, các tổ tiền đồn báo cáo chiến xa và bộ binh địch đang di chuyển hướng về Đông Hà, trận đánh Đông Hà sắp diễn ra…

(Sau ba ngày liên tục pháo kích dữ dội cùng chiến xa và bộ binh tấn công chiếm lấy các căn cứ cực bắc vùng phi quân sự, Sư Đoàn 308 Bắc Việt theo đà chiến thắng đã tiếp tục điều quân từ vùng phi quân sự chọc thẳng xuống phía nam. Bấy giờ, ngày 2 tháng Tư, tình hình cho thấy quân cộng sản đang mở cuộc tấn công chính dọc theo quốc lộ 1. Tuy hai căn cứ nằm về phía tây là Carroll và Mai Lộc vẫn còn nằm trong vòng kiểm soát của quân đội miền Nam, nhưng, mọi sự kháng cự từ phía bắc Cam Lộ và sông Cửa Việt đã không còn nữa. Vào lúc trưa ngày 2 tháng Tư, tại hướng đông bắc, không còn có gì giữa quân cộng sản Bắc Việt và thành phố Quảng Trị, chỉ trừ con sông, chiếc cầu, một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến và các chiếc xe tăng của quân đội miền Nam)

… Trận đánh bắt đầu từ ngày 2 tháng Tư cho đến ngày 8 tháng Tư thì Tiểu Đoàn 3 Sói Biển được các đơn vị Biệt Động Quân thay thế. Chỉ trong bảy ngày chiến trận, quyết tâm không cho quân cộng sản Bắc Việt chiếm Đông Hà, 700 người lính Sói Biển cùng với các người lính Kỵ Binh của Thiết Đoàn 20 Chiến Xa đã dũng cảm chiến đấu chống lại quân số đông hơn gấp nhiều lần của quân địch, sau những đợt tiền pháo là quân cộng sản được chiến xa yểm trợ đồng loạt tấn công vào nhiều vị trí do các đại đội Sói Biển trấn giữ. Đánh ngày không xong, quân địch lợi dụng trời tối, cho quân vượt sông, hợp cùng xe tăng lội nước PT-76 điên cuồng xung phong vào phòng tuyến các đại đội nhưng chúng luôn bị thất bại bởi tinh thần chiến đấu kiên cường của tất cả các người lính Sói Biển và lính Thiết Kỵ. Có những lúc, quân địch đã chọc thủng được phòng tuyến, như phòng tuyến của một trung đội thuộc Đại Đội 4, nằm giáp mé sông, viên đại đội trưởng đã xin pháo binh bắn vào vị trí này, và cho lính xung phong chiếm lại phòng tuyến. Tất cả những người lính bị thương, chỉ trừ những người bị thương nặng (không còn sức chiến đấu), đã tình nguyện ở lại chiến đấu, để sống với các chiến hữu của mình và chết cho Đông Hà. Hai căn cứ nằm về phía tây của Đông Hà là Carroll và Mai Lộc cũng lọt vào tay giặc, như vậy, sườn trái của tiểu đoàn, đã không còn quân bạn bảo vệ. Mỗi ngày, quân Bắc Việt pháo cả ngàn trái đạn vào các vị trí của tiểu đoàn và có lúc, chúng đồng loạt tấn công vào tất cả các vị trí này. Các người lính Sói Biển vẫn không hề nao núng nhất quyết không rời bỏ vị trí, hải pháo Hoa Kỳ, các phi cơ khu trục miền Nam, và các chiến xa M-48 của Thiết Đoàn 20 Chiến Xa yểm trợ các người lính Sói Biển một cách tận tình. 11 giờ 30 đêm ngày 7 tháng Tư, quân cộng sản Bắc Việt đồng loạt tấn công vào mọi tuyến, pháo địch bắn vào cầu và vào hướng nam cầu, quân bộ chiến địch đánh ngang hông và bọc hậu, có lúc tưởng quân địch đã tràn ngập vào tất cả phòng tuyến tiểu đoàn. Đại Đội 1 báo cáo tuyến đầu đã bị bể, đại đội phải lui về tuyến phụ, người đại đội trưởng đại đội xin lệnh cho pháo binh bắn ngay trên tuyến mình, sau ba mươi phút hỏa tập, tất cả các người lính Đại Đội 1 đồng loạt tiến lên chiếm lại vị trí vừa bị mất và còn đuổi quân địch lọt xuống cầu. Đến 1 giờ sáng ngày 8 tháng Tư, quân Bắc Việt lại dồn toàn lực tấn công một lần nữa. Thiết giáp, pháo binh, hải pháo, và các phi tuần Phantom hợp cùng các người lính Sói Biển giữ vững phòng tuyến, để rồi khi ánh dương mai vừa xuất hiện, cả tiểu đoàn từ thế thủ chuyển sang thế công, quét sạch quân cộng sản Bắc Việt ra khỏi phòng tuyến tiểu đoàn.

Vào buổi trưa ngày 8 tháng Tư, các đơn vị của Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân đến thay thế Tiểu Đoàn 3 Sói Biển. Thiếu Tá Lê Bá Bình, Đại Uý John Ripley và những người lính Sói Biển còn lại, lội bộ năm cây số về căn cứ Ái Tử, nơi đặt bộ chỉ huy Lữ Đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến.

– Lúc 12 giờ trưa ngày 2 tháng Tư, một đoàn chiến xa địch di chuyển trên quốc lộ 1 từ căn cứ Charlie 1 theo hướng nam tiến về Đông Hà, với khoảng cách xa chừng 2,500 mét, Chi Đội 1/Thiết Đoàn 20 Chiến Xa từ trên đồi cao khai hỏa thẳng vào đoàn chiến xa, thiêu hủy sáu chiếc xe địch, tên chỉ huy địch rất bối rối, hắn báo về bộ chỉ huy có sáu chiến xa bị bắn cháy nhưng không rõ súng địch bắn từ nơi nào. Chiếc chiến xa chỉ huy của người thiết đoàn phó, Thiếu Tá Kiều, từ khoảng cách 3,000 thước, bắn cháy hai chiếc tăng T-54.

– Khoảng 12 giờ 15 phút trưa cùng ngày, chiếc tăng đầu của địch tiến thẳng đến phía bắc cầu. Từ phía nam cây cầu, Trung Sĩ Lượm cùng một người lính chạy đến ngay đầu cầu, trên tay họ là hai cây M-72 và hai thùng đạn bên trong chứa đầy cát. Lượm để hai thùng cát dùng làm điểm tựa trước mặt ông, hai cây M-72 chống chiến xa được giương ra. Bên phía bắc cầu, chiếc chiến xa T-54 dẫn đầu đoàn chiến xa đang gầm gừ tiến lên cầu. Người lính hạ sĩ quan miền Nam cân nặng bốn mươi lăm ký lô nằm chờ chiếc chiến xa T-54 nặng bốn mươi tấn do Nga Sô chế tạo. Thiếu Tá Bình và Đại Uý John Ripley đang quan sát ở một vị trí xa, Thiếu Tá Bình nói với Đại Uý Ripley: “Ripp-lee. David và Goliath.” Trái hỏa tiễn M-72 đầu tiên bắn trược qua khỏi đầu chiến xa T-54, Trung Sĩ Lượm vẫn không nao núng, chiếc tăng địch vẫn chưa dám rồ ga vượt lên cầu. Lần này, trái hỏa tiễn thứ hai bắn trúng vào chiếc xe tăng địch, ngay chỗ nối giữa pháo tháp và khung xe, không có tiếng nổ bùng và lửa cháy dữ dội giống như trong phim ảnh, chỉ có khói đen bay tỏa ra từ ngay chỗ ngồi của tên trưởng xa và có lẽ ngay chỗ trái hỏa tiễn bay trúng vào. Từ chỗ quan sát của Ripley, ông không thể đoán chắc là các tên địch trong xe tăng bị chết hay bị thương. Ripley ghi vào cuốn sổ tay cá nhân, ông sẽ đề nghị lên phía Hoa Kỳ, tưởng thưởng cho Trung Sĩ Lượm, huy chương Bonze Star của quân đội Hoa Kỳ. Vị quốc vong thân, Trung Sĩ Lượm sẽ không bao giờ nhận lãnh huy chương Bonze Star, ông đã tử trận vài ngày sau đó. Sau này, Đại Uý Ripley kể lại về Huỳnh Văn Lượm như vầy: “Một hành động dũng cảm nhất thuộc về chủ nghĩa anh hùng mà tôi đã nghe, đã kinh nghiệm và đã chứng kiến.”

– Ngày 5 tháng Tư, vào lúc ba giờ chiều, tất cả các phi cơ Skyraider thuộc Phi Đoàn 518 được lệnh cất cánh bay từ phi trường Đà Nẵng, mục tiêu gần đầu cầu Đông Hà, phi tuần do tôi (Đại Uý Nguyễn Ngọc Lành) hướng dẫn là phi tuần thứ nhất (hai chiếc AD-6) trang bị 12 trái bom 500 cân (lbs), tới chiếc cầu đúc bắt qua sông Miêu Giang (sông Đông Hà), tôi nhận ra mục tiêu là một đoàn xe hơn 100 chiếc nối sát nhau dài khoảng ba cây số về hướng tây bắc Đông Hà, tôi đánh mười chiếc tăng đầu trong khi chiếc phi cơ số hai đánh những chiếc tăng kế tiếp, sau lần đánh thứ hai, khi kéo chiếc phi cơ lên, một tiếng nổ long trời, tôi biết được cây cầu vừa được quân bạn giật sập, chúng tôi thả hết bom lên đoạn đầu của đoàn xe và rời mục tiêu để cho bảy phi tuần A-1 kế tiếp vào đánh suốt buổi chiều hôm đó. Chiến xa Bắc Việt tìm đường tẩu thoát ra hai bên quốc lộ một cách chậm chạp và khó khăn do sự cản trở lưu thông, tất cả các phi công đã hoàn thành nhiệm vụ được giao phó trong tinh thần hăng say, bất chấp phòng không, và trở về đáp an toàn.

– Tôi (lời của Đại Uý John Ripley) nhìn thấy một người lính trẻ, trên mình quấn đầy bông băng đang dìu một người bạn bị thương nặng đi về tuyến sau, người lính trẻ này tôi thấy đã bị thương ba lần vào những ngày trước đó, đã tình nguyện ở lại chiến đấu, nhất định không chịu cho tản thương. Vào buổi chiều cùng ngày, tôi nghe tin cả hai đã hy sinh.

– Đại bác từ chiến xa M-48 bắn nổ tung miếu thờ nơi địch quân bố trí súng cộng đồng bắn dọc theo con đường mòn làm thiệt hại toán tiền sát của Trung Sĩ Tiền. Thiếu Uý Môn cùng tiểu đội đại liên tiến lên, Binh Nhất Chiến mặt mụn xạ thủ đại liên bắn yểm trợ cho tiểu đội Trung Sĩ Tiền. Một loạt đạn AK, Trung Sĩ Tiền gục xuống, Binh Nhất Dũng phóng ngay đạn M79, đồng thời con gà cồ của Chiến quạt vào hướng đó. Đạn đại bác trên chiến xa M-48 chuyển xạ xa về hướng bắc cũng để yểm trợ Đại Đội 1 tiến chiếm mục tiêu. Trung Sĩ Tiền bị thương nặng, không tìm ra thi thể Binh Nhì Toàn, Trung Sĩ Trịnh Văn Tiền với vết thương nơi ngực đã ra đi trước khi chiếc M-113 đến tản thương. “Ngủ đi em, chúng tôi sẽ tiếp tục chiến đấu để làm tròn ước nguyện của em cũng như của toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”, lời người đại đội trưởng của Trung Sĩ Tiền, Đại Đội 2 Sói Biển.

– 1 giờ sáng ngày 7 tháng Tư, toán tiền đồn TQLC phía tây núi Động Quan báo cáo có nhiều bóng đen xuất hiện cách gần 100 mét… Sau khi xác định chắc chắn địch xâm nhập phòng tuyến, các chi đội được lệnh báo động tác chiến, chỉ tác xạ khi thấy địch, một xe sử dụng đạn nổ, một xe đạn chống biển người, các toán tiền đồn TQLC rút về vị trí chiến đấu hai bên hông chiến xa… 15 phút trôi qua, quả claymore đầu tiên phát nổ, tiếp theo là mìn chiếu sáng và những quả claymore khác thi nhau nổ ầm ầm… những bóng người xổng lưng nhào lên phòng tuyến, mìn chiếu sáng giúp chúng tôi nhìn rõ quân thù, loạt đạn 90 ly đầu tiên bung ra kèm với những tràng đạn M-16 ròn rã của TQLC đốn ngã toàn bộ toán xung kích đầu tiên, địch bắn trả bằng đủ loại vũ khí B40, B41, thượng liên và AK47 hòa lẫn bộc phá ném không tới đích phá tan bầu không khí tỉnh mịch, hỏa châu của pháo binh gởi đến giúp cho cả bạn lẫn thù nhìn nhau rõ mồm một, các ổ B40, B41 gây cho hai chiến xa trúng đạn, lập tức các chiến xa khác thổi bay tung các ổ súng địch, trận chiến càng khốc liệt, dưới làn đạn, những con thiêu thân đã bị điếc, cố lao mình xông thẳng vào phòng tuyến và lại ngã rạp bởi các loạt đạn chống biển người, cùng lúc các chiến sĩ TQLC gan dạ ném những quả lựu đạn để ngăn làn sóng đỏ điên cuồng. Trận chiến kéo dài đến 4 giờ 45 phút thì chỉ còn tiếng súng của phe ta, địch quân bị tổn thất nặng nề và biết không thể tràn ngập phòng tuyến vững chắc và gan lỳ của Thiết Giáp và TQLC đành ngậm ngùi rút lui, để lại chiến trường hơn 60 xác chết sau khi đã kéo thương binh và xác đồng đội khác đi, vết máu vương vãi khắp nơi.

– Chiếc Citroen ngừng bánh gần bộ chỉ huy tiểu đoàn, nơi gần cái chùa, ngay bên tỉnh lộ 9. Đám phóng viên từ trong xe ùa ra, nhào tới vây quanh và dành phỏng vấn Đại Uý John Ripley, quân cộng sản lại pháo cối 82 ly vào ngay khu vực ấy, Thiếu Tá John Smock và nhiều phóng viên bị thương. Riêng Nhã, người lính mang máy cho Ripley hy sinh ngay tức khắc. Sau khi lo cho các tay phóng viên và Thiếu Tá John Smock được tải thương bằng các chiếc M-113, Đại Uý Ripley, người may mắn không bị thương tích vì nhờ hàng rào “người” che quanh, quay tìm Nhã (Đại Uý Ripley coi Nhã như người em trai của mình). Lúc này, cộng quân lại xung phong tấn công dữ dội vào phòng tuyến, nặng nhất là ngay chỗ ngôi chùa, Thiếu Tá Bình quyết định lui quân về phía sau. Đại Uý Ripley không biết điều này, trong lửa khói mịt mù của chiến trận và sương mù buổi sáng, ông vác thân xác của Nhã trên vai, nhắm hướng quân bạn mà tiến bước. Sau lưng ông, một tiểu đội cộng quân đang tràn tới, biết chắc mình sẽ bị chúng bắn từ phía sau lưng, ông như người vô hồn vẫn mang xác Nhã đi về phía quân bạn. Từ trước mặt ông, ba người lính Thủy Quân Lục Chiến chạy nhanh đến, hai mũi súng M-16 hướng về phía địch, nhanh tay khạc đạn, đốn ngã bọn cộng quân. Thì ra, Thiếu Tá Bình và Jack (người lính cận vệ của Thiếu Tá Bình) cùng một người lính khác đã trở lại tìm ông.

– Mùa Hè năm 2009, khi được hỏi lại về trận đánh cầu Đông Hà, Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Lành cho biết: “Vào buổi chiều ngày ấy (ngày 5 tháng Tư, 1972), có thể ví đoàn xe địch trên quốc lộ 1, là một con rắn khổng lồ, vừa chiến xa, vừa chiến cụ và xe chuyển quân, dài nhiều cây số, tám phi tuần (16 chiếc Skyraider) thả bom không trật mục tiêu (phía bắc cầu Đông Hà), nhưng chỉ làm con rắn khổng lồ trầy da, tróc vảy, bị thương nặng. Đó, quân số và chiến xa của chúng nhiều như vậy đó.”

Sau bảy ngày chiến trận, Tiểu Đoàn 3 Sói Biển về đóng quân tại căn cứ Ái Tử, trong số 700 người lính Thủy Quân Lục Chiến đã chiến đấu tại thị xã Đông Hà, chỉ có 200 người về được Ái Tử.

Vài ngày sau, các trận đánh đẫm máu sẽ xảy ra quanh và trong căn cứ Ái Tử, ác liệt tới mức độ tàn bạo và dã man. Các người lính Sói Biển lại tiếp tục đổ xương máu của họ cho Quảng Trị, cuộc chiến tiếp diễn cho đến ngày 22 tháng Tư, khi Lữ Đoàn 258 được Lữ Đoàn 147 đến thay thế. Tiểu Đoàn 3 Sói Biển về Huế nghỉ dưỡng quân, tiểu đoàn sẽ được tái trang bị, bổ sung quân số, rồi lại trở ra lại Quảng Trị trong một thời gian ngắn nhất, quyết không cho quân cộng sản Bắc Việt chiếm lấy Quảng Trị, tiến về Huế, kinh thành xưa của người Việt Nam.

– Jack (người lính cận vệ cho Thiếu Tá Bình), tuy là con người hơi hung bạo, nhưng cũng gần như là biểu tượng rất hùng dũng của các người lính Sói Biển, cuối cùng, cũng phải chết trận. Cái chết đúng như Ripley đã đoán trước, hy sinh khi xung phong thẳng vào quân địch, chiến đấu chống lại quân số đông đảo của chúng. Ngay vào lúc giữa đêm, sau ngày Thiếu Uý Lương được tản thương, khi quân địch tiến thẳng vào khu vực của bộ chỉ huy tiểu đoàn, Thiếu Tá Bình và Đại Uý Ripley trông thấy Jack và hai người lính khác chạy vượt qua họ, ra phía ngoài hàng rào kẽm gai, xông thẳng vào một toán quân địch. Trong bóng tối kỳ dị kia, thế giới bên kia chỉ được thắp sáng một cách ngẫu nhiên và rời rạc của các khẩu pháo luôn nổ vang và trái sáng của cộng quân bắn từ những khẩu cối để tiến quân. Quân địch quá đông, lúc nào quân địch cũng quá đông, lúc nào quân số của địch cũng vượt trội hơn quân số của các người lính Mũ Xanh Việt Nam. Ba người lính Thủy Quân Lục Chiến chạm địch chỉ cách hàng rào kẽm gai vài mét, cuộc tiếp xúc làm náo động cả khu vực, âm vang ồn ào của tiếng súng và tiếng la hét, rồi tất cả trở nên im lặng, không một chuyển động, không còn có gì cả và trời tối đen như mực. Vào buổi sáng, khi mặt trời lên, những người lính ở bên trong hàng rào nhìn thấy cảnh chiến địa. Ba người lính Thủy Quân Lục Chiến, nằm chết cong, quanh họ là xác của khoảng hai tiểu đội quân Bắc Việt, con dao găm đặc biệt dùng cho việc đánh nhau mà Jack luôn mang bên người, đâm lút vào trong ngực tên địch chỉ còn thấy cán dao bên ngoài, tên này đã bắn thẳng từ sát bên người cận vệ trung thành của Thiếu Tá Bình.

Từ căn cứ Ái Tử, Tiểu Đoàn 3 Sói Biển được thiết vận xa chở về Huế, quân số của cả tiểu đoàn, lúc ấy, chỉ bằng quân số của một đại đội tác chiến. Vào buổi sáng ngày hôm sau, Trung Tướng Lê Nguyên Khang đến nói chuyện với các người lính Sói Biển, ông ta cảm ơn các người lính đã chiến đấu anh hùng. Tuy tiểu đoàn bắt đầu chiến trận với 700 người lính và được bổ sung quân số vài lần, nhưng chỉ có đúng 52 người lính (cả Thiếu Tá Bình và Đại Uý Ripley) còn đứng vững để nghe bài diễn thuyết của Tướng Khang. Vậy đó, những người lính trông hốc hác, ốm yếu này vừa lắng nghe những lời nhắn nhủ của Tướng Khang, vừa nhớ về các người bạn Sói Biển đã hy sinh hay đang mang những thương tích nặng nề. Năm mươi hai người lính này là những người lính đã thật sự thấm mệt nhưng cũng là những người lính tới nhất của Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam.

“Better for us to fight and maybe die than for our children to live in misery”

(Tốt nhất là chúng ta chiến đấu và hy sinh hơn là để con em chúng ta sống trong khốn khổ)

Riêng tặng Quasimodo, ra đi an lành

Tài liệu tham khảo:

 

  • Tiểu Đoàn 3/TQLC trên phòng tuyến Đông Hà 29/3 – 8/4/1972, tác giả Lê Bá Bình, Tuyển Tập 2 Thủy Quân Lục Chiến
  • Đại Đội 2 Sói Biển trên phòng tuyến Đông Hà 29/3 – 8/4/1972, tác giả Giang Văn Nhân, Tuyển Tập 2 Thủy Quân Lục Chiến
  • Chiến Trường Quảng Trị Trong Mùa Hè Đỏ Lửa Với Phi Đoàn Khu Trục 518, tác giả Nguyễn Ngọc Lành, website canhthep.com
  • Những Trận Xa Chiến Và Những Kỷ Niệm Khó Quên, tác giả Hải Âu, Đặc San Thiết Giáp Binh, Đại Hội Ngộ 2009
  • U.S. Marines in Vietnam: The War That Would Not End, 1971-1973 by Charles D. Melson
  • The Easter Offensive by Gerald Turley
  • The Bridge at Dong Ha by John Grider Miller
  • Ride the Thunder by Richard Botkin

Về tác giả Richard Botkin:

Richard Botkin là cựu sĩ quan tác chiến thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Ông phục vụ trong binh chủng mười lăm năm (hiện dịch và trừ bị), từ năm 1980 đến năm 1995.

Cảm ơn tác giả Richard Botkin, một nhà văn với tấm lòng lương thiện và tử tế, đã viết quyển sách Ride the Thunder (tạm dịch: “Cưỡi Lên Sấm Sét Mà Đi”), quyển sách nói về chiến tranh Việt Nam, về các viên cố vấn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và về các người lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, rất trung thực và đàng hoàng.

Sài Gòn nhỏ, 27-01-2010

Nguyễn Văn Phúc

***

Click to expand image to full size (249.42 Kb)

Thiếu Tá Lê Bá Bình Tiểu đoàn trưởng TĐ 3 Sói Biển TQLC (giữa) tại Đông Hà và Đại Uý John Ripley cố vấn tiểu đoàn (trái)

***

Click to expand image to full size (340.46 Kb)

Cầu Đông Hà chụp từ phi cơ quan sát sau khi được phá hủy bởi Đ/uý Ripley. Bên trái hình là ngã ba quốc lộ (QL) 1 và QL 9 (về hướng tây đến Cam Lộ – Khe Sanh – Lao Bảo), bên phải nhìn kỹ là những chiến xa của CSBV bị chặn lại bên kia sông, phải lủi tránh vào lề đường và làm mồi cho phi cơ oanh kích.

***

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s